Du ký ngược Đường Hồ Chí Minh, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, theo quốc lộ 14 từ Sài Gòn ra Hà Nội, xuyên Cao Nguyên Trung Phần đến Khe Sanh – Quảng Trị – Quốc lộ 9. Đi tiếp theo Đường Hồ Chí Minh – Nhánh Tây, trên lưng dãy Trường Sơn sát biên giới Việt Nam – Lào đến Lam Kinh, xuống đồng bằng về Thanh Hóa.

Bài số 21. Từ thành phố Thanh Hóa theo quốc lộ 10 đi vòng qua Phát Diệm, sau đó về thành phố Ninh Bình.

Vì chưa muốn đi 155km trực chỉ hướng Bắc theo quốc lộ 1 về Hà Nội nên lộ trình kế tiếp sẽ theo quốc lộ 10, vòng qua hướng đông bắc, ghé Phát Diệm – Kim Sơn, sau đó đến thành phố Ninh Bình.

Phòng trọ ở ngay trong khu phố Cũ nên trước khi lên đường, người và ngựa sắt ghé viếng Lê Lợi tại tượng đài Ông. Trong 10 năm kháng chiến chống quân Minh, 1418 – 1427, đứng về phía có chính nghĩa nên Ông được rất nhiều người tài giỏi theo giúp nhưng tiếc là lúc lên ngôi và nhất là đời con Ông – vua Lê Thái Tông đã có nhiều vụ án thảm sát công thần, trong đó có Trần Nguyên Hãn – Phạm Văn Xảo – Lê Sát – Lê Ngân – Nguyễn Trãi. Cũng là chuyện để cho chúng ta “ôn cố tri tân” suy gẫm vì đời bây giờ cũng không khác gì ngày xưa trong lãnh vực “ăn cháo đá bát”.

Trước khi tạm biệt Thanh Hóa, đến “trình diện” lãnh tụ nghĩa quân Lam Sơn – Bình Định Vương Lê Lợi tại tượng đài Ông ngay trung tâm thành phố Thanh Hóa. Thay vì cây cối xanh tươi xinh đẹp thì sau lưng Ông là những khối bê tông của ngân hàng.

Tượng Lê Lợi được hoàn thành năm 2004, tính cả đế cao 15,7m, được tạc từ 173 mét khối đá xanh cỡ lớn, ghép từ nhiều mảng và đã lộ ra nhiều vết kết nối bị hư hỏng, lại tốn nhiều kinh phí để tu bổ lại. Về phương diện kiến trúc, đã có quy định không được xây dựng quá cao chung quanh tượng đài nhưng tòa nhà của Ngân hàng Đầu tư và Phát triển ở phía lưng Lê Lợi, mặc dù “sinh sau đẻ muộn”, xây dựng năm 2012 nhưng vẫn có cách “hóa phép” cao đến 11 tầng lầu, vi phạm trắng trợn luật xây dựng và bảo vệ cảnh quan di tích lịch sử, phá nát nét đẹp của công viên tượng đài Lê Lợi. Biết nói gì đây ?

Km 5 – Cầu Hàm Rồng.

Tạm biệt thành phố Thanh Hóa và sông Mã nơi cầu Hàm Rồng cho có vẻ hoài cổ một tí, dù phải đi vòng thêm vài cây số. Bạn cũng có thể đi qua cầu Hoàng Long trên quốc lộ 1 cũ hoặc từ tượng đài Lê Lợi đi thẳng theo đại lộ Lê Lợi rồi sẽ vào đường tránh – City Belt, lên cầu Nguyệt Viên để đi về hướng bắc, nhập vào quốc lộ 1.

Tạm biệt Thanh Hóa – Cầu Hàm Rồng lịch sử.

Vừa qua khỏi cầu Hàm Rồng hoặc cầu Hoàng Long vài trăm thước sẽ có một ngả tư rất lớn. Lộ trình của chúng ta lần này là đi theo quốc lộ 10, hướng đông bắc đi Bút Sơn – Hoằng Hóa – Hậu Lộc – Nga Sơn – Phát Diệm.

Km 13 – Thị trấn Bút Sơn.

Huyện lỵ của huyện Hoằng Hóa, cạnh thành phố Thanh Hóa. Huyện này cũng nằm bên bờ sông Mã nhưng là bờ phía bắc – tả ngạn. Từ Bút Sơn có con đường số 6, đi thẳng một lèo 10km đến biển Hải Tiến, địa điểm du lịch mới và hấp dẫn của Thanh Hóa với 70 cơ sở lưu trú và gần 5.000 phòng.

Bờ biển thuộc hàng xanh – sạch – đẹp nhưng nước đục vì có hai cửa sông ở hai đầu, bãi biển dài hơn 12km với những hàng dừa xanh những hàng cây phi lao dọc theo biển, bị bỏ quên bao nhiêu năm nay, đã được đánh thức và đầu tư xây dựng rất nhiều, rất nhanh.

Trước đây 10 năm chẳng có ai biết biển Hải Tiến nằm ở đâu, cách đây chừng 6 – 7 năm bắt đầu có lác đác vài khách sạn nhà nghỉ nơi đây, coi như một cách để tránh quá tải cho Sầm Sơn vào mùa hè vì thực sự biển Hải Tiến chỉ cách biển Sầm Sơn một cửa sông đó là Cửa Hới, nơi nhánh chính của sông Mã chảy ra Biển Đông.

Biển Hải Tiến, bên cạnh thành phố Thanh Hóa và Sầm Sơn, mới được đầu tư xây dựng vài năm nay.

Từ một khu vực thu nhập thấp, sống bằng nghề đánh bắt cá quy mô nhỏ, mấy năm vừa qua biển Hải Tiến bị “cơn lốc tiền” bất ngờ đi ngang nên về chuyện quy hoạch – quản lý – điều hành rất thấp kém – bết bát. Muốn kiếm tiền cho nhanh cho nhiều nên không có hoặc rất ít nhà nghỉ giá rẻ mà nhà đầu tư chỉ xây khách sạn to, sau đó tìm cách mua nhiều . . . “sao” gắn lên bảng hiệu là 3 sao – 4 sao – 5 sao, để nâng cao giá phòng, giống như đi mua bằng tiến sĩ để được nâng mức lương.

Chuyện hay thì khó học còn chuyện dở chuyện xấu thì phe ta học nhanh lắm. Du khách phần đông từ Hà Nội và các thành phố lớn ở miền Bắc ghé du lịch biển nên không khí chặt chém ở đây cũng kinh hoàng, không chịu thua những nơi khác.

Mấy tháng hè nhộn nhịp – đông đúc – chen lấn cho nên các du khách phải bấm bụng chịu cảnh trái ý một lần rồi về và chắc sẽ không bao giờ quay trở lại, cũng giống như du khách ngoại quốc đến Việt Nam một lần rồi sợ tới già không bao giờ quay trở lại nữa, mặc kệ báo chí bồi bút của Việt Nam cứ miệt mài tự khen cho du lịch Việt Nam.

Mật ít ruồi nhiều nên côn đồ từ nơi khác kéo đến đây kiếm tiền. Nhà hàng cạnh tranh nhau nên đã xảy ra nhiều vụ thanh toán bằng mã tấu. Dân ta không thích đi bộ, chỉ thích “cỡi ngựa xem hoa” nên nơi đây cũng như những khu du lịch trong cả nước, có nhiều xe điện để chở khách đi lòng vòng ngắm cảnh.

Ngoài những xe chính thức, biển Hải Tiến còn có thêm từ 300 đến 400 xe điện không đăng ký không đăng kiểm, giành giật khách một cách trắng trợn thô bạo, gây nhiều chuyện ồn ào – rắc rối – phiền hà.

Thay vì tốn vài trăm triệu cho một xe điện, có thể chở được 6 người đi chơi, thì có “đường giây” mua vài trăm xe điện cũ nát đã được thanh lý ở Sầm Sơn và ở những sân Golf, chỉ tốn vài chục triệu đồng rồi đem qua biển Hải Tiến xài và không có một thứ giấy phép gì, cứ chạy rông khắp nơi, giành khách giựt khách rất là mất trật tự. Du lịch Hải Tiến có nguy cơ bị thiên hạ né tránh, lọt vào cảnh “sớm nở tối tàn”, sẽ bị ế khách.

Vài trăm xe điện cũ mua bên biển Sầm Sơn và từ các sân Golf, đem về biển Hải Tiến và chạy loạn xạ, tranh giành khách gây mất trật tự và nhiều phiền nhiễu cho du khách.

Cha ông ta có dạy là : “Ăn trông nồi, ngồi trông hướng” nhưng thời nay chuyện ăn uống của dân ta có phần quá dễ dãi, vô văn hóa. Ngồi lê la chỗ nào cũng bày ra ăn nhậu và thậm chí coi đó như là một dấu hiệu của sự giàu sang – phú quí – dư thừa. Ăn uống tràn lan khắp nơi, người người nhà nhà ngồi ăn nhậu đầy cả bãi biển và xả rác ngay tại chỗ nên nguyên cả bãi biển nhiều cây số chỉ toàn là rác, rác và rác ! Khủng khiếp lắm.

Từ biển Hải Tiến khách có thể thuê thuyền hoặc ca nô tốc độ cao đi đến bãi tắm của Khu du lịch FLC – Sầm Sơn, cách 10km ở phía nam hoặc ra tham quan đảo Hòn Nẹ trong vùng biển huyện Hậu Lộc cũng chỉ cách khoảng 10km về phía đông bắc.
Hình ảnh được đăng cho bà con coi là những hình ảnh lúc chọn góc đẹp, thời khắc đẹp còn thực tế thì phũ phàng vô cùng. Đừng tin vào những hình ảnh hào nhoáng xinh đẹp để sống ảo rồi thất vọng não nề, nguy hiểm lắm ! Trong miền Nam thường nói là : Thấy dzậy mà hổng phải dzậy !

Đã đến Hoằng Hóa, ta có dịp đi viếng thăm mấy nơi hấp dẫn :

Chùa Phủ Vàng. Tên chính thức là Phủ Vàng Linh Từ, ở núi Chùa làng Vàng, xã Hoằng Xuân, thờ Mẫu Đệ Nhất Liễu Hạnh. Chùa nằm ở vị trí đẹp bên tả ngạn – bờ phía bắc sông Mã, phía tây quốc lộ 1 gần đền thờ Bà Triệu, trên đồi nhìn xuống sông rất đẹp.

Chùa Phủ Vàng, tên chính thức là Phủ Vàng Linh Từ, ở tả ngạn – bờ phía băc sông Mã, xã Hoằng Xuân huyện Hoằng Hóa, không xa cầu Hàm Rồng và gần đền thờ Bà Triệu, gần quốc lộ 1.

Đền thờ Trạng Quỳnh – Nguyễn Quỳnh, 1677 – 1748, ở xã Hoằng Lộc. Qua cầu Nguyệt Viên, quẹo phải 2km là đến. Bạn nào ghét tụi lợi ích nhóm – quan lại tham ô – cường hào ác bá, chắc biết và ngưỡng mộ Ông Trạng này. Năm 20 tuổi Ông đã đậu thủ khoa kỳ thi Hương đời vua Lê Dụ Tông nhưng không ra làm quan.

Với tài năng thơ phú và ứng đối xuất chúng, nhất là luôn luôn bênh vực người nghèo, kẻ yếu thế và ghét cay ghét đắng bọn tham quan nên Ông được dân gian yêu mến, phong là Trạng và trân trọng thờ cúng, chứ không phải như tụi hợm hĩnh háo danh thời bây giờ, danh hiệu toàn là đi mua nên lúc sống cũng như lúc chết chẳng ai thèm ngó ngàng tới, thậm chí còn bị coi thường và khinh bỉ. Đền thờ trạng Quỳnh hiện nay được con cháu trong giòng họ của Ông trông coi.

Đền thờ Ông Trạng Quỳnh, 1677 – 1748, ở xã Hoằng Lộc huyện Hoằng Hóa, gần cầu Nguyệt Viên. Ông Trạng Quỳnh được nhân dân mến mộ – kính trọng – tôn vinh và thờ muôn đời.

Chùa Hồi Long, có từ đời nhà Lý, cách biển Hải Tiến chỉ 1km.
Ở phía bắc huyện Hoằng Hóa, trên đường đi Phát Diệm – Ninh Bình, tập trung vài địa điểm tham quan.

Chùa Hồi Long, gần bãi tắm Hải Tiến.

Công viên Văn hóa Hòn Bò – Lạch Trường. Nằm ngay cửa biển Lạch Trường, nơi nhánh thứ nhì của sông Mã chảy ra Biển Đông.

Tượng đài “Lão Dân Quân Hoằng Trường anh hùng”. Được khánh thành năm 2013, công viên tượng đài rộng 12.000m2, tri ân những đóng góp to lớn, hy sinh cao quý của 18 Cụ dân quân xã Hoằng Trường. Chẳng những “giặc đến nhà, đàn bà cũng đánh” mà các bô lão cũng lên tuyến đầu đánh giặc.

Km 39 – Thị trấn Nga Sơn.

Màu tím hoa Sim.

Nga Sơn là quê hương và cũng là nơi an nghỉ ngàn thu của nhà thơ có một địa vị rất được trân trọng và mãi mãi đi vào văn học sử Việt Nam : Hữu Loan, 1916 – 2010. Thơ của Ông không nhiều nhưng chỉ cần duy nhất một bài thơ khóc người vợ trẻ chết sớm đã làm cho Ông bất tử trong lòng hàng triệu triệu người ngưỡng mộ.

Tác giả bài thơ Màu tím hoa Sim : Nguyễn Hữu Loan, 1916 – 2010

Cho là tình cảm riêng tư nên bài thơ “Màu tím hoa Sim”, Ông không gửi cho tờ báo nào nhưng bài thơ đã được chuyền tay nhau, lan tỏa rất nhanh ở Khu 4 – Khu 3 và tới cả Chiến khu Việt Bắc. Bài thơ của người chồng ngoài chiến trường khóc người vợ chết lúc còn rất trẻ ở quê nhà, tình cảm rất thật – rất chân tình – rất mộc mạc, không gọt giũa không trau chuốt nhưng có sức lay động lòng người tột cùng, thấm vào tâm tư của mọi người.

Nhưng không chết
Người trai khói lửa,
mà chết,
Người gái nhỏ hậu phương.

Tôi về,
không gặp nàng
Má tôi ngồi bên mộ con đầy bóng tối.
Chiếc bình hoa ngày cưới,
thành bình hương
tàn lạnh vây quanh.

Ngày xưa nàng yêu hoa sim tím,
áo nàng màu tím hoa sim.
Ngày xưa
một mình
đèn khuya
bóng nhỏ.
Nàng vá cho chồng tấm áo
ngày xưa . . .

Tính cách của Ông đầy khí phách – khảng khái, không luồn cúi không chịu được tụi cường hào ác bá văn nghệ, các “quan văn nghệ”, tụi bồi bút “thượng đội hạ đạp”, nịnh hót cấp trên đâm thọt cấp dưới nên mặc dù đang là một trong những người sáng lập ra Hội nhà văn Việt Nam, Ông vất bỏ tất cả ở Hà Nội, về quê Vân Hoàn – Nga Lĩnh – Nga Sơn.

Làm người đẽo đá, cho lên xe cút kít đẩy đi bán, vô cùng vất vả nhưng vẫn bị tụi ác ôn ở địa phương tìm mọi cách trù dập. Người vợ sau, Ông nên duyên trong giai đoạn gia đình bà bị đấu tố dã man tan nát, mặc dù gia đình bà đã có công lớn, giúp rất nhiều cho bộ đội trong kháng chiến chống Pháp. Bà phải lam lũ làm bánh cuốn rồi bán lén lút, nuôi được 10 đứa con nên người.

Bất chấp chuyện đất nước lúc đó đang bị chia cắt, bài thơ Màu tím hoa Sim của Ông rất phổ biến ở miền Nam, được nhiều nhạc sĩ phổ thành nhạc và hát khắp nơi. Dzũng Chinh viết bài Những đồi hoa Sim làm rung động hàng triệu con tim, Phạm Duy có bài Áo anh sứt chỉ đường tà với nhiều tiết tấu. Anh Bằng phổ từ thơ thành Chuyện hoa Sim, và cả ca sĩ – nhạc sĩ Duy Khánh cũng làm được bài Màu tím hoa Sim.

Chiến khu Ba Đình.

Ở Hà Nội có quảng trường Ba Đình lịch sử, nơi chủ tịch Hồ Chí Minh đọc tuyên ngôn độc lập ngày 2 tháng 9 năm 1945, nên chắc mọi người đều muốn biết Ba Đình nằm ở đâu và vì sao lại có cái tên Ba Đình.

Chỉ cách thị trấn Nga Sơn 3km về hướng tây bắc, nơi có 3 làng : Thượng Thọ – Mậu Thịnh – Mỹ Khê. Đứng ở đình làng này, có thể thấy đình của 2 làng kia nên khu vực này được gọi là Ba Đình. Hưởng ứng phong trào Cần Vương chống giặc Pháp xâm lược nên Ông Đinh Công Tráng, 1842 – 1887, cùng nghĩa quân về đây lập chiến khu đánh Pháp – Khởi Nghĩa Ba Đình.

Bia ghi địa điểm của Chiến Khu Ba Đình ngày xưa, khi cả nước Ta đứng lên khởi nghĩa chống giặc Pháp xâm lược.

Tấn công nhiều lần nhưng không dẹp được chiến khu này nên đầu năm 1887 Pháp đem 3.500 binh lính với nhiều vũ khí hạng nặng, được cả nhiều ngàn giáo dân từ Phát Diệm tiếp sức, phá sạch đốt sạch chiến khu Ba Đình. Đinh Công Tráng, rút lui – “di tản chiến thuật” lên miền tây Thanh Hóa rồi vào Nghệ An tiếp tục cuộc kháng chiến được một thời gian ngắn nữa và hy sinh.
Một con đường nhỏ, gần nhà thờ và chợ Tân Định ở quận 1 Sài Gòn, được mang tên Đinh Công Tráng. Trên đường này có một tiệm bánh xèo rất ngon, nổi tiếng từ nhiều chục năm nay, được gọi là bánh xèo Đinh Công Tráng.

Động Từ Thức.

Rời thị trấn Nga Sơn đi về hướng Phát Diệm vài cây số, ta thấy có tấm bảng chỉ đường, quẹo trái 2km quanh co một tí là đến động Từ Thức. Động nằm trên cao, ở rìa đông nam núi Tam Điệp, ranh giới thiên nhiên của 2 tỉnh Ninh Bình – Thanh Hóa.
Leo chừng 100 bậc thang là đến cổng động, vừa đi vừa né những sợi rễ phụ to bằng cổ tay giăng mắc khắp nơi. Động đã từng được nhiều quan lớn ghé tham quan, có cả Tĩnh Đô Vương – Trịnh Sâm, bác học Lê Quý Đôn. Mấy bài thơ của các ông được khắc trên vách đá ngay cổng vào động.

Đường lên cửa động Từ Thức.

Ngày xưa động có tên là Bích Đào nhưng sau khi có Từ Thức xuất hiện, thiên hạ gọi là động Từ Thức. Chuyện gắn với ông quan Từ Thức về hưu, được dịp đi ngao du sơn thủy. Đến đây, non nước hữu tình, gặp lại người con gái mà trước đây ông đã có lần trong một dịp du xuân, cởi áo gấm để đền vì nàng Giáng Hương – Tiên nữ giáng trần, đã làm gãy một nhánh hoa đẹp – quí – hiếm.

Mối lương duyên cho chàng có cơ hội được sống trong chốn bồng lai với nàng tiên nhưng sau một thời gian chàng lại nhớ . . . những lạc thú trần gian, muốn xuống hạ giới, muốn “châu về Hợp Phố”. Nhưng một năm ở chốn bồng lai bằng cả trăm năm dưới trần thế, mọi việc đã hoàn toàn khác lạ, Từ Thức trở nên vô cùng lạc loài trên chính ngay quê hương của mình và muốn về với Giáng Hương cũng không được vì đường về không còn nữa – Tiến thoái lưỡng nan. Dân gian nhận xét về Từ Thức như sau :

Trách chàng Từ Thức vụng suy,
Đã lên tiên cảnh, về chi cõi trần.

Từ giã bồng lai tiên cảnh của Từ Thức và tiên nữ Giáng Hương, chúng ta ra lại quốc lộ 10 với cái nắng nóng của trần thế, đi về hướng Phát Diệm – Ninh Bình thêm 6km để đến điểm tham quan cuối trên đất Thanh Hóa.

Km 50 – Đền thờ Mai An Tiêm.

Người có công dưới thời Hùng Vương 17. Một lần làm phật ý vua nên hai vợ chồng bị đày ra đảo hoang. Được chim bay ngang nhả mấy hạt giống dưa hấu, hai vợ chồng chăm chỉ làm việc, thu hoạch được nhiều dưa ngon. Dưa nhiều quá, hai vợ chồng khắc chữ thả xuống biển cho trôi vào bờ. Quan quân vớt được, ăn khen ngon. Tiếng đồn tới tai vua, Ông được thưởng công và cho về đất liền, được phong lại chức tước như xưa.

Đền thờ Mai An Tiêm ở Nga Sơn – Thanh Hóa.

Hòn đảo nơi Mai An Tiêm bị đày, dần dần được bồi đắp thành đất liền. Dân kéo tới, dựng làng lập ấp gọi là Mai Thôn. Ông được coi như Tổ nghề trồng dưa hấu ở Việt Nam. Tại đền thờ Mai An Tiêm, hàng năm vào mùa xuân đều có tổ chức lễ hội dưa hấu.

Xã cuối cùng của huyện Nga Sơn tỉnh Thanh Hóa trên quốc lộ 10, giáp ranh giới với huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình là xã Nga Điền. Một xã nhỏ, nghèo nàn với 80% cư dân theo đạo Công giáo, lại có đến 3 nhân vật nổi tiếng của Việt Nam thời cận đại.
Theo thứ tự tuổi tác thì thứ nhất là Bác sĩ Trần Kim Tuyến, 1925 – 1995, trùm mật vụ thời Đệ nhất Cộng hòa ở miền Nam dưới trướng tổng thống Ngô Đình Diệm, 1901 – 1963. Ông làm giám đốc Sở Nghiên cứu Chính trị và Xã hội, thực chất là mật vụ – cảnh sát chìm. Éo le và trớ trêu là ngày 30 tháng 4 năm 1975, chính nhà tình báo chiến lược của cộng sản – sau này là thiếu tướng Anh hùng Phạm Xuân Ẩn, đã tận tình giúp đỡ để ông kịp tẩu thoát vào giờ chót bằng máy bay Mỹ, và sau đó tỵ nạn chính trị tại Anh.

Thứ nhì là Trần Anh Bường, người đã sáng tác nhiều nhạc phẩm làm rung động lòng người như Sầu lẻ bóng, Khúc Thụy Du, Chuyện giàn thiên lý, Anh còn nợ em . . . với nghệ danh là Anh Bằng, 1926 – 2015. Ông qua đời tại California – Mỹ.

Một người nữa là Giáo sư Dr. Nguyễn Tiến Hưng. Ông này du học bên Mỹ rất sớm, vào năm 1957. Đầu thập niên 1970 ông được mời về Việt Nam làm cố vấn cho tổng thống Nguyễn Văn Thiệu và sau đó là tổng trưởng bộ kế hoạch và phát triển, hồi đó dưới thời ông Thiệu, thay vì bộ trưởng thì lại gọi là tổng trưởng. Sau 30 tháng 4 năm 1975, ông lại qua Mỹ và được mời dạy ở đại học Howard tại thủ đô Washington D.C.

Ông viết nhiều sách, kể lại khoảng thời gian làm cố vấn cho ông Thiệu tại Sài Gòn trước năm 1975, viết về chuyện Mỹ đem quân đội qua và sa lầy trầm trọng tại Việt Nam, và cả sách nói về chuyện “Khi Đồng Minh tháo chạy”. Những sách này được dịch qua tiếng Việt và được các nhà xuất bản tại Việt Nam phát hành.

Điều thú vị là những năm 1982 – 1986, trong số những sinh viên của ông có một cô gái da màu rất năng nổ – thông minh – học giỏi, sau này trở thành thượng nghị sĩ và mới đây lại là phó tổng thống Mỹ Kamala Harris.

Đầu những năm 1990, ông được Ngân hàng Thế giới – World Bank và Quỹ tiền tệ quốc tế – IMF mời về làm việc tại Việt Nam. Ông được chính phủ Việt Nam mời dạy những khóa về tài chính ngân hàng và một trong những sinh viên của ông cách đây hai mươi mấy năm bây giờ là thống đốc ngân hàng nhà nước Việt Nam Nguyễn Thị Hồng.

Km 58 – Nhà thờ Đá Phát Diệm.

Rời xã Nga Điền chỉ vài trăm thước, chúng ta đi vào địa phận huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình. Nhà thờ Đá nằm ở thị trấn Phát Diệm, huyện Kim Sơn tỉnh Ninh Bình và gần quốc lộ 10, từ Thanh Hóa đi Ninh Bình. Nguyên tên là Phát Diễm tức là phát sinh ra cái đẹp, đọc thành Phát Diệm.

6 nhà thờ được xây dựng trong cùng một khuôn viên rộng 22 ha vào những thập kỷ cuối của thế kỷ 19.

Cả một quần thể nhiều nhà thờ Công Giáo trên khuôn viên rộng 22 ha, được xây dựng từ 1880 đến 1899. Một nhà thờ lớn ở vị trí trung tâm, là nhà thờ chính tòa của giáo phận Phát Diệm, được bao quanh bằng 5 nhà thờ nhỏ hơn. Trong đó có một nhà thờ làm toàn từ vật liệu đá nên bà con gọi là nhà thờ Đá, tất cả mọi thứ trong nhà thờ Đá đều bằng đá : Từ nền nhà, vách tường, cột nhà, đến song cửa, tháp, bàn thờ đều là đá.

Nhà thờ Đá Phát Diệm.

Những nhà thờ này được xây dựng bằng đá và gỗ. Đá lấy từ những vùng lân cận cách đó vài chục cây số nhưng gỗ quí được chở từ Nghệ An – Thanh Hóa – Sơn Tây bằng đường thủy về đây, cả một kỳ công của thời bấy giờ vì những tảng đá lớn và những cây gỗ to đều rất nặng.

Điểm độc đáo của kiến trúc là sử dụng nhiều đường nét, hình dáng của đình – đền – chùa – cung điện truyền thống với nhiều mái cong lên hình mũi thuyền, nhiều họa tiết nghệ thuật quen thuộc trong đời sống dân gian.

Tổng công trình sư của cả quần thể rộng lớn này là linh mục Trần Lục, 1825 – 1899, còn được gọi là Cụ Sáu, quê ở Nga Sơn, làm chánh xứ Phát Diệm từ năm 1865 đến lúc về với Chúa năm 1899. Việc xây dựng những nhà thờ nơi đây được linh mục Trần Lục trông coi từ năm 1880 đến 1899.

Linh mục Trần Lục, 1825 – 1899, còn được gọi là Ông Sáu. Tổng công trình sư của cả quần thể kiến trúc nhà thờ Phát Diệm – Kim Sơn.

Gần nhà thờ Đá, bên quốc lộ 10 ta thấy cây cầu ngói Phát Diệm, có từ năm 1902 và đã được xây lại mới hoàn toàn. Cầu bắc qua sông Ân, dài 36m rộng 3m, hai hàng cột gỗ, được lợp ngói, chỉ dành cho người đi bộ và cũng là điểm độc đáo của Phát Diệm, cũng như cầu ngói Thanh Toàn ở Huế và chùa cầu ở Hội An.

Cầu ngói qua sông Ân – Phát Diệm, những năm đầu thế kỷ 21.

Cách cầu ngói Phát Diệm chỉ vài trăm thước nhưng ở bờ sông bên đối diện với quốc lộ 10, bên bờ phía nam có một rạp chiếu bóng lớn của Phát Diệm tên là Kim Mau, do Kim Sơn kết nghĩa với Cà Mau, ghép lại thành Kim Mau.

Đi thêm vài trăm thước nữa lại có một ngôi đền bên trái quốc lộ 10 : Đền thờ Dinh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ, 1778 – 1858. Uy Viễn Tướng Công được thờ ở quê nhà Nghi Xuân – Hà Tĩnh và đặc biệt tại hai huyện Kim Sơn – Ninh Bình, Tiền Hải – Thái Bình vì Ông đã có công khai hoang lập ấp cho hai huyện miền biển này vào đầu thế kỷ 19.

Đền thờ Nguyễn Công Trứ được xây dựng ngay trên nền nhà mà trước kia Ông đã sống trong thời gian làm việc nơi đây với tư cách Dinh Điền Sứ, phụ trách những công trình dẫn thủy nhập điền, khai khẩn vùng đất hoang, đem nước ngọt tưới làm trù phú cho cả khu vực rộng lớn, thu hút dân từ những nơi khác về đây an cư lập nghiệp.

Đền thờ Uy Viễn Tướng Công – Dinh Điền Sứ Nguyễn Công Trứ ở Phát Diệm – Kim Sơn.

Hào hoa phong nhã, năm 73 tuổi Ông cưới bà thiếp thứ 8. Khi bà hỏi về tuổi thì Ông trả lời như sau :

Tân nhân dục vấn lang niên kỷ,
Ngũ thập niên tiền nhị thập tam

Tạm dịch qua tiếng Việt là :

Vợ mới hỏi chàng bao nhiêu tuổi,
Năm mươi năm trước tớ hăm ba.

Là ông quan thanh liêm chính trực, suốt cả cuộc đời vì nước vì dân. Năm 1858, lúc đã 80 tuổi khi nghe tin Pháp tấn công ta ở Đà Nẵng, Ông vẫn dâng sớ lên vua, tha thiết xin được tòng quân đánh giặc. Chủ trương chống tham ô tham nhũng nên Ông bị dèm pha – đâm thọc – vu khống, gặp nhiều khó khăn trong lúc làm quan, cuộc đời ba chìm bảy nổi, mấy lần bị cách chức phải làm lính trơn.

Tổng kết về cuộc đời, Ông để lại mấy vần thơ :

Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữa trời mà reo
Giữa trời vách đá cheo leo
Ai mà chịu rét thì trèo với thông.

Từ giã Phát Diệm – Kim Sơn, theo quốc lộ 10 và hướng tây bắc, qua nhiều xứ đạo, gần một giờ sau đã đến đích của ngày hôm nay.

Km 88 – Thành phố Ninh Bình.

Đã ghé qua đây vài lần nên không cần cỡi xe đi lòng vòng dạo phố và tìm khách sạn nhà nghỉ như vẫn thường làm, cứ “ngựa quen đường cũ” đến nhà trọ đã quen ở mấy lần trước, gần ga xe lửa cũ, trong khu dân cư cũ xưa – hiền hòa – yên lặng.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

0 Lời bình luận

Viết lời bình luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Liên Lạc

Thư từ xin gởi về nguyenchihoainhon @gmail.com

Số lượt trang đọc

37,899

Tìm Kiếm