Du ký Gợi giấc mơ xưa, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc lang thang – rong ruổi – trôi lạc trên các nẻo đường đất nước, lần này đi ngược Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, từ Khe Sanh – Đường 9 ra Hà Nội.

Bài số 13. Từ Khe Sanh – Quảng Trị đi động Phong Nha – Quảng Bình.

Từ Sài Gòn đi ngược 1.050km Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 14 đến điểm cuối của chặng “Miền Nam” là Ngả 3 nơi cầu Đa Krông gặp Quốc lộ 9. Đoạn Đường Hồ Chí Minh tiếp theo sẽ là Quốc lộ 15 – Nhánh Tây, chạy sát biên giới Việt Nam – Lào, theo hướng tây bắc.

Ngả 3 Bùng Binh Tượng Đài ở phía đông thị trấn Khe Sanh. Đây là điểm cuối cùng của Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, bắt đầu từ Khe Gát – Quảng Bình đến đụng Quốc lộ 9 ở Khe Sanh – Quảng Trị.

Phía đông thị trấn Khe Sanh có một Ngả 3 Bùng Binh Tượng Đài, quẹo về phương bắc, hướng sân bay và bảo tàng ngoài trời Tà Cơn là ta bắt đầu vào Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây.

Km 3 – Di tích Lịch sử Sân bay Tà Cơn, bảo tàng Đường 9 Khe Sanh.

Nằm bên tay phải, phía đông Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, cách đường chính chừng vài trăm thước, trên khuôn viên rộng mênh mông của phi trường Tà Cơn ngày xưa, nhiều tàn tích của thời chiến tranh được trưng bày ngoài trời : Những máy bay của quân đội Mỹ như phi cơ khổng lồ C – 130 Hercules, trực thăng vận tải Chinook, trực thăng con chuồn chuồn UH – 1, các loại xe tăng và bom đạn thì vẫn còn vô số, quả nào cũng vài trăm Kg. Vẫn còn đó, những công sự hầm ngầm kiên cố, hào chiến đấu của lính Mỹ ngày xưa, chỉ có khác là thay vì bao quanh căn cứ hỏa lực này trước kia là hàng chục hàng rào kẽm gai bùng nhùng thì bây giờ là những trang trại trồng cây cà phê xanh tươi.

Một nhà bảo tàng xây theo kiến trúc nhà sàn của bà con dân tộc thiểu số vùng này, những người Tà Ôi – Pa Cô – Vân Kiều, đã hết lòng ủng hộ bộ đội Giải Phóng Quân. Nhà bảo tàng trưng bày những dụng cụ, trang thiết bị tinh vi đã được Mỹ thả xuống Hàng rào điện tử Mac Namara, hòng phát hiện dấu vết của việc chuyển người và vũ khí trên đường tiếp viện từ Bắc vào Nam, để rồi cho hàng đàn pháo đài bay B 52 tới ném bom kiểu rải thảm hòng hủy diệt tất cả sự sống trên Đường mòn Hồ Chí Minh.

Phi trường Tà Cơn – Khe Sanh với nhà trưng bày chứng tích chiến tranh.

Tại khu vực Khe Sanh – Đường 9 đã xảy ra nhiều chiến dịch nhiều trận giao tranh ác liệt nên đã có nhiều gương chiến đấu anh dũng, nhiều đơn vị và nhiều cá nhân được phong Anh hùng. Trong số những Anh hùng còn đang sống, mình “phát hiện – nhìn mặt” được 2 người. Hai người này khi xưa có thể đã có chiến công lớn, được phong Anh hùng, sau này còn lên tới cấp tướng, một người làm quan rất to. Nhưng nhiều năm sau này đáng tiếc là có những chuyện vô cùng lùm xùm lem nhem quanh hai người này nên mình thất vọng quá, không muốn nhắc đến hai người này.

Km 8 – Thủy điện Rào Quán.

Trên giòng chảy từ bắc xuống nam để nhập vào sông Đa Krông, sông Rào Quán được ngăn lại bằng một đập nước, phục vụ tưới tiêu cho 1.600ha ruộng lúa hoa màu và nhà máy thủy điện có công suất 64 MW, còn được gọi là thủy điện Quảng Trị. Tuy nhiên những năm gần đây thời tiết bất thường, mùa mưa bị lũ lụt mùa nắng lại bị khô hạn nên nhà máy thủy điện này hoạt động chập chờn, không phát huy hết năng suất.

Thời tiết bất thường. Nhiều năm gặp hạn hán, hồ Rào Quán bị thiếu nước trầm trọng.

Tỉnh Quảng Trị đã có chương trình xây dựng nhiều nhà máy sản xuất điện sạch, năng lượng tái tạo như điện gió tại huyện Hướng Hóa. Cụ thể là có vài cụm điện gió đã hoạt động, công suất hiện đang có là 60 MW. Tham vọng của Quảng Trị là sẽ trở thành “Trung tâm năng lượng sạch” lớn nhất miền Trung !

Không biết từ khi nào và được nhân vật nào “truyền cảm hứng” mà các chính khách Việt Nam dạo sau này thường được mấy anh thầy dùi bày cho cách ăn nói toàn những từ ngữ thừa mứa vô bổ nhưng “dao to búa lớn, nổ vang trời” như : Thành phố mình phải là động cơ kéo cho cả nước đi lên, là gương tốt cho cả nước noi theo. Tỉnh chúng ta phải là đầu tàu để đưa cả khu vực Asean này lên, Khu công nghiệp của chúng ta phải đứng đầu châu Á, là mũi nhọn về công nghệ thông tin, thậm chí là . . . tàu vũ trụ để đưa cả đất nước và dân tộc Việt Nam . . . lên trời.

Luật bù trừ cho rằng : Nói nhiều thì làm ít, Nói năng huênh hoang khoác lác vì mang nhiều mặc cảm tự ti để rồi trên thực tế là đất nước còn ngổn ngang vô số dự án ma hoặc là dự án đầu voi đuôi chuột. Toàn là hô khẩu hiệu rỗng tuếch, làm thiên hạ chán ngấy và thấy thật là tội nghiệp với trí tuệ bị giới hạn như vậy.
Km 33 – Thác Chênh Vênh dưới chân Đèo Sa Mù.

Những khúc cua cùi chỏ trên đèo Sa Mù.

Trước khi lên đèo Sa Mù, có ngả quẹo bên trái phía tây Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, đi vào thác Chênh Vênh, trên giòng chảy của sông Xê Samu. Sông Xê Samu phát nguyên ở dãy Trường Sơn – Việt Nam nhưng chảy về hướng tây qua Lào, nhập vào sông Xê Băng Hiên sông Mekong, để rồi sau cả ngàn cây số lại quay trở về Việt Nam, làm tươi tốt cho cả đồng bằng Nam Bộ rộng lớn và được mang tên là Cửu Long vì chảy ra Biển Đông ở 9 cửa sông.

Thác Chênh Vênh sở hữu vẻ đẹp tự nhiên, cột nước cao 20m nằm giữa không gian xanh tươi, có hồ tắm to, có bãi cát sạch – mịn – rộng và gần con đường chính, địa điểm thuận tiện dễ đến nên được nhiều khách ghé tham quan trước khi lên đèo Sa Mù. Đèo này được đặt tên theo con suối Xê Samu ngay dưới chân đèo, mặt phía nam.

Thác Chênh Vênh dưới chân đèo Sa Mù ở Km 32.

Nơi đây có con suối tên theo tiếng địa phương là Xê Samu. Đèo này nằm ở cao độ từ 1.000m lên đến 1.500m, ngoằn ngoèo – quanh co – khúc khuỷu trải dài 20km và là nơi tiếp giáp hai vùng khí hậu khác nhau của Trường Sơn Tây và Trường Sơn Đông, thời tiết mát mẻ cùng với sự thường xuất hiện biển mây huyền ảo. Có thể thiên hạ được ngắm mây mù trên đèo này nên hiểu lầm cho rằng tên đèo Sa Mù là do có sương mù sa xuống !

Vì khí hậu mát mẻ – mây mù – ẩm ướt như vậy, thích hợp với một số loài thực vật nên có doanh nhân đã lên đèo này lập nghiệp và rất thành công với trang trại trồng hoa. Trên đỉnh đèo có Trạm Nghiên cứu, ứng dụng và thông tin khoa học công nghệ – tên gì mà thật là lòng thòng – dài dòng – rườm rà – rắc rối khó hiểu khó nhớ ghê, sao không đặt tên là trại hoa Sa Mù nghe ra có vẻ lả lướt lãng mạn hơn !

Sương mù sa xuống trên đèo Sa Mù nhưng tên Sa Mù là do nơi đây có con suối tên là Xê Samu theo tiếng địa phương.

Nơi đây trồng, nhân giống và kinh doanh rất thành công mấy loài hoa hiếm như hoa Lys, hoa Tu Líp và nhất là loại lan Hồ Điệp cao giá. Cơ sở này trở thành địa điểm tham quan rất hấp dẫn trên đèo Sa Mù và mới đây đã thử nghiệm trồng dâu tây cũng đạt được kết quả tốt.

Gần đây tỉnh Quảng Trị đã trồng thêm rất nhiều cây Dã Quỳ trên đường đèo nên vào dịp cuối năm dương lịch cho đến qua Tết âm lịch, đi trên đèo Sa Mù nhìn những thảm hoa Dã Quỳ vàng thắm hai bên đường khách cứ ngỡ là đang ở một nơi nào đó trên Cao Nguyên Trung Phần.

Khám phá đỉnh núi Voi Mẹp, còn được gọi là Tá Linh Sơn – 1.707m

Từ trên núi Voi Mẹp nhìn xuống. Phía tây tỉnh Quảng Trị có nhiều dự án điện gió đang được triển khai.

Trên đèo Sa Mù vào những ngày đẹp trời, phóng tầm nhìn về hướng đông, hướng thành phố Đông Hà và Biển Đông ta có thể thấy đỉnh của ngọn núi Voi Mẹp cao 1.707m, chỉ cách chưa tới 20km theo đường chim bay. Đây là ngọn núi cao nhất tỉnh Quảng Trị, nơi phát nguyên mấy con sông lớn của tỉnh, có thảm thực vật phong phú và một số động vật hiếm như Bò Tót, nằm trong danh sách bảng đỏ của những loài có nguy cơ bị tuyệt chủng. Núi có tên như vậy vì nhìn từ xa giống phần đầu của con voi đang nằm.

Km 58 – Động và thác Tà Puồng.

Qua khỏi đèo Sa Mù khoảng chừng 5km, ta đến thôn Tà Puông – Thôn Trăng. Từ đây có đường quẹo phải về phía đông Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, đi vào chừng 1km sẽ được tham quan động Tà Puồng và thác Tà Puồng. Hai địa điểm này chỉ cách nhau chưa tới 1km, cũng tiện là nằm gần đường chính, không tốn nhiều sức lực và thời giờ.

Thác nước Tà Puồng, Km 58 quẹo tay phải.

Km 62 – Cầu Xê Băng Hiên – Đồn Biên Phòng xã Hướng Lập – Vĩ tuyến 17 độ Bắc.

Vùng này xưa kia nằm trong khu “Phi quân sự – Demilitary Zone”, thường được viết tắc là DMZ, vĩ tuyến 17 độ bắc. Đây chỉ là biên giới quân sự tạm thời – phía nam là lính của khối Liên Hiệp Pháp, phía bắc là bộ đội Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa, và chỉ là biên giới quân sự tạm thời trong 2 năm theo Hiệp Định Geneve ngày 20 tháng 7 năm 1954, chứ không phải biên giới quốc gia như nhiều người hiểu lầm.

Vĩ tuyến 17, giới tuyến quân sự tạm thời cho 2 năm, 1954 – 1956. Sông Bến Hải là con sông của những “Chuyến đò vĩ tuyến”, bắt nguồn từ dãy Trường Sơn phía tây tỉnh Quảng Trị.

Sông Bến Hải bắt nguồn gần đây, từ núi Động Chân, chạy theo hướng tây – đông theo vĩ tuyến 17 khoảng 60km và gặp Biển Đông ở Cửa Tùng. Tên của sông có thể có từ chữ Bến Hói. Theo tiếng địa phương vùng phía tây tỉnh Quảng Trị thì Hói có nghĩa là giòng sông nhỏ, nhưng khi qua khỏi cổng làng hoặc lúc được những vị “hay chữ” cho vào sổ sách – văn chương – chữ nghĩa thì được đọc thành Bến Hải.

Nơi đây cũng là khu vực có Đường mòn Hồ Chí Minh thô sơ xưa kia, từ mùa Hè năm 1959, nhưng bị bom đạn đánh phá ác liệt và thêm nữa, gặp phải chướng ngại thiên nhiên là đèo Sa Mù nên những người đi mở đường, xây dựng Đường mòn Hồ Chí Minh đã dùng sông Xê Băng Hiên để tiếp tục vận chuyển người và vũ khí vượt qua biên giới Việt Nam – Lào ở làng Cù Bai, mượn thêm đường bên nước bạn để đi tiếp về phương Nam.

Bà con dân tộc Vân Kiều ở vùng ven biên giới Việt Nam – Lào đã bớt khổ hơn khi xưa, đã “được no cái bụng rồi”.

Làng Cù Bai bên sông Xê Băng Hiên cạnh biên giới Việt Nam – Lào trước đây rất nghèo khó nhưng bây giờ đã thoát được cảnh khổ đã “được no cái bụng” nhờ biết trồng cây Bời Lời. Cây này trồng chỉ tốn 4 đến 5 triệu đồng trên một ha, sau 5 đến 7 năm sẽ cho thu hoạch lâu dài, được 50 triệu đến 70 triệu đồng trên một ha mỗi năm. Cây thuộc họ Long Não – Litsea Glutinosa, cao cả chục thước hoặc hơn nữa, sống tốt ở độ cao 600m – 700m, ở cửa rừng và ven khe suối.

Gỗ cây Bời Lời không bị mọt, được dùng làm nguyên liệu, lá làm thức ăn cho gia súc, quả được ép cho dầu công nghiệp, làm sáp và xà bông, vỏ có chất nhớt dùng làm chất dính để sản xuất nhang. Xã nghèo Hướng Lập thuộc vùng sâu vùng xa, từ nhiều năm nay đã trồng được 600 ha cây Bời Lời, chỉ riêng làng Cù Bai ngay cửa khẩu bên sông Xê Băng Hiên sở hữu 300 ha cây Bời Lời. Đời sống của bà con nơi đây khá lên thấy rõ.

Cây Bời Lời là cây giúp bà con nơi đây xóa đói giảm nghèo. Trồng từ 5 đến 7 năm là có thu hoạch. Lá làm thức ăn cho gia súc, quả ép lấy dầu công nghiệp làm sáp và xà bông. Gỗ Bời Lời không bị mối mọt, dùng làm nguyên liệu, vỏ cây cho chất nhờn làm bột dính để sản xuất nhang thơm.

Người Vân Kiều ở Cù Bai và trong vùng này kiêng cữ không bao giờ ăn thịt cá Y Rắc, một loại giống như cá Lăng đuôi đỏ ở đồng bằng vì cho rằng đây là hiện thân của con người. Cá này dài 70cm – 100cm, nặng cả chục Kg có râu dài, thường được thấy trên sông Xê Băng Hiên và sông Xê Pôn.

Trong chuyến đi vào chiến trường Quảng Trị – Đường 9 năm 1967, Nhạc sĩ Huy Thục – về hưu với quân hàm đại tá, để ý cứ sau mỗi loạt đạn của pháo binh thì ở sở chỉ huy của trung đoàn có tiếng trống nổi lên liên hồi giục giã, kéo theo tiếng kèn lệnh – tiếng kẻng – tiếng tù và của các chiến sĩ rền vang. Ông đã lấy cảm hứng từ tiếng trống trận để viết nhạc phẩm “Tiếng đàn Ta Lư”, đã được ca sĩ Tường Vi – sau này được phong Nghệ sĩ Nhân dân, trình diễn trước Bác Hồ vào một dịp cuối năm 1968.

Đi ra mặt trận, người Vân Kiều mang trước ngực đàn Ta Lư, sau lưng là gùi gạo kháng chiến. Một điểm đặc biệt là mặc dù chịu đựng muôn vàn gian khổ, dù phải uống nước suối ăn rau rừng nhưng người Vân Kiều tuyệt đối không tơ hào, không làm thất thoát một hạt gạo nào của Cách Mạng !

Trong quá khứ, bằng các vũ khí thô sơ như tên tẩm thuốc độc, hầm chông, bẫy v. . . v. . . người Vân Kiều đã nổi dậy hưởng ứng chiếu Cần Vương chống Pháp của vị vua trẻ yêu nước Hàm Nghi. Thời trước 1975, người Vân Kiều đã đóng góp rất nhiều công sức và xương máu để xây dựng bảo vệ con Đường mòn mang tên Hồ Chí Minh.

Cũng ở chiến trường Khe Sanh – Đường 9, cùng năm 1967, Nhạc sĩ Huy Du, 1926 – 2007, hành quân cùng với bộ đội Trường Sơn, đóng giữa khu rừng phía tây Quảng Trị. Đơn vị có cô cấp dưỡng xinh đẹp, rất trẻ tên là Sạn. Ông chỉ biết cô là người Hà Tĩnh, con độc nhất trong gia đình nhưng vẫn tình nguyện xung phong ra mặt trận.

Cô rất chăm chỉ, và đặc biệt mến mộ yêu quí các văn nghệ sĩ. Mỗi lần đoàn ông đi công tác là được cô chuẩn bị gạo rang – cơm khô – rau – muối cho mấy ngày đường và khi trở về đơn vị, các văn nghệ sĩ được cô ưu ái chiêu đãi món rau tươi. Thời đó ở chiến trường, bữa cơm có rau tươi là một điều kỳ diệu một kỳ công của nhà bếp. Để có được món rau tươi, Sạn phải vào tận rừng sâu, qua biết bao điểm có cài bom nổ chậm vô cùng nguy hiểm để hái được rau.

Huy Du được người bạn là nhà thơ Giang Lam tặng bài thơ tên “Em cũng hành quân”, nói về sự vất vả của người cấp dưỡng nơi chiến trường. Bài thơ này cũng như những bài thơ khác được nhạc sĩ luôn mang theo trong ba lô. Xúc động trước tình cảm của người con gái xinh đẹp đảm đang, bắt gặp một tứ trong bài thơ của người bạn tặng, nhạc sĩ Huy Du đã viết được bài “Nổi lửa lên em”. Những chi tiết có thực đã đi vào bài hát của ông rất giản dị :

Một cánh rau rừng còn ủ kín yêu thương,
Nhớ nắm gạo rang đường ra chiến trận . . .

Năm 1971 nhạc sĩ Huy Du lại được vào Nam tham gia chiến dịch Đường 9 – Nam Lào. Ông mang bài hát theo, hy vọng gặp lại người con gái năm xưa để trao tặng. Khi ông đến được đơn vị có bếp lửa đầy ân tình năm xưa thì đã “vật đổi sao dời”, chỉ thấy những gương mặt mới. Hỏi thăm mải, ông nhận được tin buồn là cô Sạn đã hy sinh. Ông nghẹn ngào, bản nhạc vẫn cầm trên tay như một món nợ chưa trả được . . .

Cầu Hiền Lương năm xưa.

Đi ngang vĩ tuyến 17 trên quốc lộ 1, khách có dịp ghé tham quan một loạt các di tích lịch sử ở cầu Hiền Lương bắc qua sông Bến Hải nhưng khi đi ngang vĩ tuyến 17 trên Đường Hồ Chí Minh chúng ta không thấy được đánh dấu một địa điểm đáng ghi nhớ nào, thậm chí một tấm bia nho nhỏ nói về sự kiện “Giới tuyến quân sự tạm thời Nam – Bắc” cũng không thấy, thật là thiếu sót và rất đáng tiếc !

Tháng 12 năm 1998, ghé qua đây để thay cái mặt kính đèn xe bị bể vì tai nạn hôm ở Hải Lăng – Quảng Trị. Thay mặt kính đèn xe xong, mới được cho biết cây cầu sau lưng vừa đi qua là cây cầu Hiền Lương lịch sử.

Khu vực có vĩ tuyến 17 độ Bắc chạy ngang, rừng núi quan cảnh rất hùng vĩ xinh đẹp, đất đai rất tốt, khí hậu mát mẻ. Có ai đó chịu tìm một mảnh đất nơi đây, gần Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 rồi làm trang trại làm Farmstay có thật nhiều hoa rồi cộng thêm yếu tố dân tộc thiểu số – lịch sử – môi trường – năng lượng sạch – thiền v. . . v. . . chắc sẽ thành công và rất hấp dẫn !

Xin được tiếp tục hành trình. Qua cầu sông Xê Băng Hiên , đi thêm một đoạn ngắn, vượt vĩ tuyến 17, tạm biệt Quảng Trị, vào địa phận tỉnh Quảng Bình, đi về phương Bắc.

Nhìn bên phải, phía đông đường đi ta thấy ngọn núi Thu Lu cao 925m, địa danh nổi tiếng trên Đường mòn Hồ Chí Minh, ranh giới Quảng Trị – Quảng Bình và là nơi đã hứng chịu những trận mưa bom đạn của máy bay Mỹ.

Km 94 – Làng Ho Bản Rum của người Vân Kiều – Bru và Ngả 3 Đường Hồ Chí Minh với Đường Tỉnh 16.

Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây chạy theo biên giới Việt Nam – Lào, qua những vùng rừng núi rất đẹp và rất hoang vắng nên các tài xế phải lưu ý luôn tìm cách đổ xăng cho đầy bình ! Đã có lần mình gặp anh chàng Tây Ba lô đi ngược chiều mặt mày đầy nét lo âu, “mếu máo” hỏi xăng xăng ? May là có một bản nhỏ và trạm xăng ở trên đường, nhưng phải đi tiếp . . . 20km nữa !

Nơi đây có một ngả 3 lớn với Đường Tỉnh 16 – có thể gọi là Ngả 3 Bia Di tích Làng Ho. Từ ngả 3 này, quẹo phải đi về hướng đông bắc, sau 20km sẽ đến Khu du lịch Suối khoáng nóng Bang thiết kế theo kiểu Nhật rất hiện đại và sắp khai trương. Thêm 20km nữa sẽ đến thị trấn Kiến Giang và Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Đông, thêm 10km cuối cùng sẽ gặp Quốc lộ 1 và bãi biển Lệ Thủy – Quảng Bình.

Một góc trong khu du lịch suối khoáng nóng Bang.

Làng Ho nằm ở khu vực rừng già nguyên sinh vô cùng hoang vắng, phía cực tây tỉnh Quảng Bình và gần ngay phía bắc của vĩ tuyến 17, cách biên giới Việt Nam – Lào chỉ 10km nên được chọn để đặt sở chỉ huy tiền phương đoàn 559, là điểm xuất phát của Đường mòn Hồ Chí Minh gùi thồ vượt qua đỉnh cao 1.001m, muôn vàn khó khăn – gian nan – hiểm trở vượt vĩ tuyến 17 vào Quảng Trị chi viện cho chiến trường Trị – Thiên và khu 5 gồm 4 tỉnh Quảng Nam – Quảng Ngãi – Bình Định – Phú Yên từ 1959 đến 1962.

Năm 1966 – 1967, bộ đội và Thanh Niên Xung Phong Trường Sơn mở những đoạn đường cơ giới gồm : Thạch Bàn – Làng Ho, Làng Ho – Khe Sanh, Làng Ho – Bản Đông bên Lào. Làng Ho là nơi tập kết lực lượng để chuẩn bị cho chiến dịch Khe Sanh – Mậu Thân 1968 và chiến dịch Đường 9 – Nam Lào mùa xuân năm 1971. Khi đó Làng Ho đã là một binh trạm mấu chốt trên Đường mòn Hồ Chí Minh.

Trai tráng Vân Kiều đánh bắt cá ở sông Xê Băng Hiên.

Sau ngày đất nước thống nhất, cư dân Bru – Vân Kiều ở Làng Ho – Bản Rum, 42 nóc nhà và gần 200 nhân khẩu vẫn nghèo xơ xác, vẫn sống tách biệt trong rừng sâu. Phụ nữ ngày ngày trầm mình dưới nước đãi vàng, mò cua bắt ốc kiếm vài con cá trên sông trên suối. Trai tráng vẫn vào rừng, sống nhờ vào “hái – lượm”, lấy mật ong, săn – bắt – bẫy những con thú rừng, lấy lá rừng làm khố – chăn – mền, tính tuổi theo những mùa rẫy.

Làng Ho ngày nay.

Từ năm 2011 có chương trình Nghĩa tình Trường Sơn, được doanh nhân Sài Gòn giúp đỡ nên 42 căn nhà ở bản Làng Ho – Bản Rùm đã được sửa chữa khang trang, có trường tiểu học và trường cấp 2, có trạm y tế quân – dân. Năm 2015 điện được dẫn về bản. Người dân an cư lạc nghiệp, “cái bụng được no, cái bụng sướng lắm !”

Rời Làng Ho vài cây số, qua ngả 3 Đường Tỉnh 16 và qua cầu sông Long Đại, ta sẽ chạy uốn lượn theo tả ngạn – phía bờ trái của sông Long Đại lúc ẩn lúc hiện đến vài chục cây số.

Km 107 – Ngả 3 Tăng Ký và Đường Tỉnh 10.

Đến đây trời vừa đứng bóng, coi như đã đi được nửa lộ trình ngày hôm nay nên ghé vào quán bên đường để nghỉ lưng và dùng bữa trưa. Đi đường đói bụng, được ăn một tô bún bò Quảng Bình rất ngon. Quán của chị Thư mà lại có tên là “Anh Thư”, chữ nghĩa thật là lắc léo ghê !

Gần ngả 3 Tăng Ký – Tỉnh Lộ 10. Quán bún bò của chị Thư nhưng có tên là . . . Anh Thư.

Nơi đây là ngả 3 Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây với Đường tỉnh 10. Đường tỉnh 10 chạy theo hướng đông bắc, gặp Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Đông, rồi về đến thành phố Đồng Hới sau 58km.

Từ Ngả 3 Tăng Ký – Quán chị Anh Thư đi tiếp về phương Bắc rất vắng, chỉ là núi rừng – sông suối – cây lá, thêm 53km giữa đại ngàn Trường Sơn hùng vĩ để đến địa danh Rinh Rinh.

Km 160 – Ngả 3 Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây và Tỉnh lộ 563.

Tỉnh lộ 563 đi về hướng đông bắc, sau 40km ta sẽ đến thành phố Đồng Hới bên sông Nhật Lệ. Nhưng hành trình của chúng ta vẫn tiếp tục đi trên Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây.

Lại thêm 60km xuyên rừng Trường Sơn, đại ngàn mênh mông, qua hết đèo này đến dốc khác, qua nhiều cây cầu bê tông vững chắc, qua muôn vàn sông suối và rất vắng vẻ, hầu như không có hàng quán gì cả. Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây ở đoạn này chắc ít xe cộ lưu thông nên không thấy có nhà ở – cửa tiệm – dịch vụ sống bám theo đường lớn như những nơi khác.

Km 220 – Ngả 4 cầu Trạ Ang.

Đây là một ngả 4 lớn : Đi thẳng về hướng bắc sẽ đến ngả 3 Khe Gát – Nhà thờ Giáo họ Vĩnh Sơn, Km 0 chia Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 thành 2 nhánh, Nhánh Tây và Nhánh Đông.

Quẹo trái về hướng tây nam là vào Đường tỉnh 562, hướng đi viếng Di tích lịch sử Hang Tám Cô. Từ Hang Tám Cô, tiếp tục 45km xuyên qua rừng già nguyên sinh nhiều cây cổ thụ nhiều hang động trong những núi đá vôi thuộc Vườn Quốc Gia Phong Nha – Kẻ Bàng. Hệ thống hang động Sơn Đoòng huyền bí và đẹp nhất thế giới nằm trong khu vực này. Điểm cuối của đường này là cửa khẩu Cà Roòng.

Ngả 4 cầu Trạ Ang. Sắp đến đích của lộ trình hôm nay : Chợ bến phà Xuân Sơn chỉ còn cách 15km, băng qua rừng phía tay phải.

Rẽ phải, đi về hướng đông bắc là chặng đường cuối của chúng ta hôm nay. Đường này được Đại tướng Tổng tư lệnh Võ Nguyên Giáp trong một lần đi thăm bộ đội ngay tại chiến trường khói lửa, đã đặt tên là Đường 20 vì thời điểm xây dựng con đường này để nối với Đường mòn Hồ Chí Minh phía tây tỉnh Quảng Bình những đơn vị Thanh Niên Xung Phong toàn những thanh niên thiếu nữ ở độ tuổi 20.

Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 Nhánh Tây, gần ngả 4 cầu Trạ Ang. Trước đó vài phút đã bị một con ong rừng Trường Sơn chích một phát đau điếng vào phía dưới mắt bên phải. May nhờ đeo mắt kiếng nên chỉ bị chích dưới mắt nhưng đã thấy có hiện tượng hơi sưng sưng lên rồi !

Km 235 – Bến phà Xuân Sơn.

Đích đến của lộ trình hôm nay sau một ngày trời rong ruổi trên đại ngàn Trường Sơn. Đã vài lần có dịp ghé qua đây nên không cần phải đắn đo tìm kiếm lâu, mình trọ tại khách sạn đã ở trong mấy dịp gần đây.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

0 Lời bình luận

Viết lời bình luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Liên Lạc

Thư từ xin gởi về nguyenchihoainhon @gmail.com

Số lượt trang đọc

30,033

Tìm Kiếm

Scroll Up