Du ký Gợi giấc mơ xưa, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc lang thang – rong ruổi – trôi lạc trên các nẻo đường đất nước, lần này đi ngược Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 14, từ Sài Gòn ra Hà Nội.

Bài số 12. Khe Sanh – Đường 9 Nam Lào.

Khe Sanh là thị trấn nằm bên quốc lộ 9, nối từ Cửa Việt – Biển Đông dẫn theo hướng đông – tây, qua thành phố Đông Hà, Cam Lộ đến cửa khẩu Quốc Tế Việt Nam – Lào tại Lao Bảo. Quốc lộ 9 của Việt Nam rất thuận tiện trong việc vận chuyển hàng hóa cho nước bạn Lào vì Lào nằm giữa đất liền, cảng biển to và gần nước Lào nhất là Đà Nẵng. Ngay cả một vùng rộng lớn miền bắc Myanmar, bắc và đông bắc Thái Lan cũng mượn hải cảng Đà Nẵng và quốc lộ 9 để tiết kiệm được nhiều chi phí thay vì phải đi vòng thêm vài ngàn cây số nữa.

Bùng binh tượng đài ở phía đông thị trấn Khe Sanh, cũng là điểm cuối của Đường Hồ Chí Minh nhánh tây – Quốc lộ 15.

Từ hồi còn thực dân cai trị đất nước ta, người Pháp đã lập nên nhiều đồn điền cà phê tại vùng đất đỏ Quảng Trị, cách nay đã hơn một trăm năm. Lúc phong trào trồng cây cà phê tại Cao Nguyên Trung Phần rộ lên, vùng chung quanh Khe Sanh cũng đã có đến 5.000 ha cây cà phê, thu hoạch hàng năm 50.000 tấn. Nhiều năm gần đây cà phê bị mất giá, nhiều lúc một ký bán chỉ được vài ngàn đồng. Hạt cà phê chín đỏ vườn nhưng chủ nhân không muốn hái, sau đó chặt bỏ cây cà phê để chuyển đổi qua trồng tiêu, cây củ mì – ngoài bắc gọi là củ sắn, và những loại cây khác.

Trang trại cà phê bên cạnh phi trường Tà Cơn – Khe Sanh.

Cuối thập niên 1960 và đầu những năm 1970, địa danh Khe Sanh thường xuất hiện trên báo chí và truyền thanh truyền hình của thế giới qua những cuộc giao tranh ác liệt giữa quân đội Mỹ và Giải Phóng Quân.

Với vị trí đặc biệt, nằm ngay phía nam vĩ tuyến 17, biên giới tạm thời chia cắt nước Việt Nam và cũng là nơi có những hành lang trên Đường mòn Hồ Chí Minh, chi viện người và vũ khí cho chiến trường miền nam nên Mỹ đã dày công xây dựng Hàng rào điện tử Mac Namara vô cùng hiện đại vô cùng tốn kém dọc theo quốc lộ 9, chiều dài gần cả trăm cây số từ Biển Đông lên tới Lao Bảo, biên giới Việt Nam – Lào, rộng khoảng 20km từ phía bắc quốc lộ 9 đến giáp với phía nam vĩ tuyến 17, phía nam sông Hiền Lương, gồm rất nhiều máy móc trang thiết bị điện tử hiện đại như Cây Nhiệt Đới, máy thu phát tiếng động rất tinh vi, máy ghi nhận hơi người v. . . v. . . mục đích để phát hiện sự thâm nhập của đường tiếp viện từ Bắc Việt Nam vào miền nam và thường xuyên điều động vô số pháo đài bay B 52 đến khu vực này thả bom nhằm hủy diệt tất cả.

Quốc lộ 9 đi ngang qua thị trấn nên xe tải nặng lưu thông ầm ầm, nguy hiểm – bụi bặm – ồn ào. Tỉnh lẻ nhưng phố không nhỏ, muốn khám phá mọi ngõ ngách phải dùng xe máy, còn nếu muốn đi dạo bộ thì chỉ cần từ khách sạn ở đầu này đến bùng binh tượng đài ở đầu kia là coi như tạm đủ, ở giữa là chợ trung tâm.

Tối khuya, trời hơi lạnh làm lữ khách đói bụng, đi loanh quanh gần khách sạn thấy có quán bên đường bán cháo lòng, nấu loãng đúng cách người miền Trung, giống Bà Ngoại người Huế thường nấu ngày xưa, đúng ngay sở thích của mình. Thế là không còn chần chờ gì nữa, tự thưởng cho mình một tô cháo ngon nức nở, nóng bốc khói nghi ngút, hương thơm ngào ngạt, trong đêm khuya lạnh trên vùng giới tuyến xưa kia. Hạnh phúc thực sự đơn sơ, là khuya lạnh được một tô cháo nóng, đâu cần phải tìm kiếm chi cho xa vời !

Đi lên cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Densavanh.

Khe Sanh cách chợ Đông Hà – Quốc lộ 1 khoảng 60km và phải đi thêm 20km nữa mới tới Lao Bảo. Rời Khe Sanh về hướng tây, hướng đi Lào chừng 10km, ta đến địa danh Làng Vây, đã đi vào lịch sử với chiến trận rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 1968.

Thôn xóm làng mạc vùng này và quốc lộ 9 nằm rất gần sông Xê Pôn, cũng là biên giới thiên nhiên giữa hai nước Việt Nam và Lào. Nhiều đoạn quốc lộ 9 chỉ cách con sông biên giới chừng 200m – 300m. Vào mùa khô ít nước, có vài khúc sông cạn chỉ thấy toàn bờ bãi và đáy cát và nếu có chảy lững lờ chút ít nước thì bề rộng của sông chỉ còn khoảng 10m – 20m, sâu chỉ đến đầu gối.

Km 21 – Lao Bảo.

Thị trấn biên giới Việt Nam – Lào, nằm bên sông Xê Pôn, cũng là điểm cuối của quốc lộ 9, cách chợ Đông Hà – Quảng Trị và quốc lộ 1 đúng 83km. Lao Bảo từng là Khu kinh tế thương mại đặc biệt với nhiều ưu tiên nhưng lại thay đổi chính sách liên tục nên các nhà đầu tư bỏ đi dần, nhiều công trình bị bỏ hoang, thêm nữa là tình hình an ninh có vấn đề nên cuối cùng dự án thành ra “Đầu voi đuôi chuột” như rất nhiều nơi khác trên đất nước chúng ta.

Trung tâm thương mại ở cửa khẩu quốc tế Lao Bảo.

Người có hộ chiếu Việt Nam có thể qua cửa khẩu Lao Bảo – Việt Nam và Densavanh – Lào dễ dàng. Quốc lộ 9 có từ hồi Đông Dương còn thuộc Pháp nên quốc lộ 9 tiếp tục bên Lào cũng là quốc lộ 9, chỉ thêm chữ E thành Quốc lộ 9 E, tức là quốc lộ 9 nằm ở phía đông – East của thành phố Savannakhet.

Khoảng cách từ cửa khẩu Việt Nam – Lào đến thành phố Savannakhet chỉ 240km nên trước khi bị qua lại khó khăn vì dịch cúm Trung Cộng, bên ta có những chuyến du lịch xuyên qua 3 nước Việt Nam – Lào – Thái Lan dễ dàng : Buổi sáng ăn bún bò giò heo tại Huế, buổi trưa đến cửa khẩu Lao Bảo – Densavanh để qua đất Lào, sau đó ngồi trên xe 240km ngắm miền Hạ Lào hai bên quốc lộ 9 E. Chiều sẽ đến thành phố Savannakhet bên tả ngạn sông Mekong, ngồi uống cà phê của bà Đào Hương, doanh nhân Việt Nam bên Lào sản xuất chế biến, hoặc Beer Lao, ngắm hoàng hôn buông trên sông Mekong.

Cửa khẩu quốc tế Lao Bảo – Densavanh.

Sau đó lên xe, lại “vượt biên” một lần nữa, lần này là biên giới Lào – Thái Lan, để đến thành phố Mukdahan – Thái Lan bên hữu ngạn sông Mekong, chỉ cách thành phố Savannakhet – Lào một giòng sông hoặc 15km đường bộ, lấy phòng ở khách sạn để còn kịp thong thả đi dạo chợ Đêm ở trung tâm thành phố Mukdahan.

Chợ Đêm ở Thái Lan tương đối hấp dẫn và đông vui, bày bán nhiều sản phẩm thủ công mỹ nghệ rất đẹp rất tinh xảo của người tại địa phương sản xuất. Nếu có đói bụng thì đừng quên thưởng thức món Tôm Yam Kung truyền thống rất ngon – rất nổi tiếng – rất cay của xứ này. Tuyệt đối không được quên là phải dặn người bán hàng, Tôm Yam Kung nhưng không cay – tức là đối với người Việt Nam mình sẽ vừa đủ cay đó, Bon Appetit !

Chắc nhiều bạn đã có nghe hay đọc ở đâu đó về nhà tù Lao Bảo thì đây là dịp may hiếm có để ghé tham quan, dâng cho các bậc cách mạng tiền bối một nén hương. Nhà tù hay còn gọi là nhà đày Lao Bảo nằm ngay trong thị trấn, cuối đường Lê Thế Tiết và chỉ cách bờ trái – tả ngạn sông Xê Pôn chừng vài trăm thước.

Thực dân Pháp xây nhà tù này năm 1908, làm nơi tra tấn – giam giữ – tù đày những người Việt Nam yêu nước đã dũng cảm gan góc dám chống lại chúng, đặc biệt nơi đây có cả tù nhân người Lào vì nước bạn trước đây cũng bị Pháp đô hộ. Chế độ tù khổ sai dã man như dưới thời Trung Cổ : Mỗi người tù đều phải mang gông và xiềng sắt ở cổ, thêm 2 vòng sắt ở 2 cổ chân và có dây xích nối với 3 vòng sắt. Bom đạn của Mỹ trong chiến tranh đã phá hủy gần như hoàn toàn nhà tù này, nay chỉ còn là phế tích.

Sau nhiều trận bom đạn trong chiến tranh, nhà tù Lao Bảo chỉ còn là những phế tích.

Vì đang đi trên hành trình “Gợi giấc mơ xưa” trên Đường Hồ Chí Minh nên mình xin phép được ghi lại một kỷ niệm tại Lao Bảo này.

Mùa xuân 1989, trước đây hơn ba mươi mấy năm rồi, lúc đi trên chiếc xe Mô tô Honda Twin 125cc đến được Kon Tum nhưng coi như . . . “cùng đường” vì vào thời điểm đó, từ Kon Tum – Ngả 3 Biên Giới đi tiếp về phía bắc hầu như không có đường cho xe cơ giới nên mình phải đi lui về Pleiku, theo quốc lộ 19 xuống đồng bằng đi tiếp về quê cũ là Qui Nhơn.

Từ Qui Nhơn có thêm bạn đồng hành là Phạm Nhật Tiến, cùng tuổi cùng trường cùng chơi trong phong trào Hướng Đạo xưa kia. Tiến trẻ hơn mình một tuổi, cũng học 12 B1 trung học Cường Để – Qui Nhơn, niên khóa 1968 – 1975, vào Sài Gòn học tiếp kỹ sư điện và làm việc một thời gian dài tại khách sạn Palace đường Nguyễn Huệ – Sài Gòn.

Hai anh em tiếp tục đi về phương bắc, ngang qua Quảng Ngãi – Đà Nẵng – Huế – Quảng Trị – Đông Hà, đến Lao Bảo và . . . “bị bắt” tại Lao Bảo.

Đến Lao Bảo, hai đứa đi lòng vòng một hồi quanh thị trấn, ghé vào quán uống nước. Trong câu chuyện ở quán có đề tài . . . biên giới, vì nơi đây là biên giới mà ! Khi đó tụi mình đâu có biết là con sông biên giới chỉ cách quán nước chừng vài trăm thước và đang cuối mùa khô, sông suối đều cạn nước, khúc sông Xê Pôn gần đó đã gần như cạn, chỉ cần xắn quần lội vài chục thước ở đoạn nước sông chỉ sâu chưa tới đầu gối là qua địa phận nước Lào !

Xin lưu ý khi đó là tháng 4 năm 1989, tình hình an ninh chính trị ở vùng biên giới này chắc còn nhiều rắc rối và công tác phòng gian bảo mật tương đối tốt chứ không phải “lỏng lẻo – lơi lả” như bây giờ. Thế là công an xuất hiện, xin kiểm tra giấy tờ của tụi mình. Thời điểm đó, đi đâu cũng phải xin đủ thứ giấy tờ. Anh bạn Phạm Nhật Tiến, ngoài thẻ Chứng minh Nhân dân còn có cả giấy cho đi phép của khách sạn Palace – Sài Gòn. Lúc đi xa mình luôn đem theo hộ chiếu, bằng lái xe quốc tế dù lúc đó không cần thiết, giấy tờ xe và nhất là giấy cho phép đi Qui Nhơn – Hà Nội của ban Việt Kiều ở Sài Gòn cấp.

Muốn cho chắc, ở Huế mình đã xin thêm một giấy đi đường của sở ngoại vụ cấp nhưng chỉ ghi chung chung là đi Quảng Trị – Khe Sanh – Lao Bảo và “không dám” ghi là đi đến mấy bản làng của đồng bào dân tộc thiểu số khu vực này gồm người Chức – người Rục – người Mày – người Arem, vẫn còn sống theo kiểu hái – lượm, ở trong những hang động của vùng Quảng Trị, kéo dài đến khu vực nhiều núi đá vôi nhiều hang động vùng Phong Nha – Kẻ Bàng. Anh cán bộ ở sở ngoại vụ có dáng vẻ trí thức, chắc là sinh viên thân cộng ở Huế ngày trước, giác ngộ cách mạng và xếp bút nghiêng lên rừng lên chiến khu ở A Sao A Lưới. Anh này rất thông cảm – thích thú – ủng hộ chuyến đi của tụi mình nhưng chỉ “rụt rè” cấp cho tờ giấy đi đường “chung chung – nửa vời” vậy thôi !

Phạm Nhật Tiến và mình quyết định, vẫn tiếp tục hành trình như dự tính mặc dù đã có nhiều dấu hiệu không được suông sẻ. Và ngay gần con sông biên giới ở Lao Bảo hai đứa được công an “hỏi thăm sức khỏe” ! Vụ việc không được giải quyết tại Lao Bảo mà phải quay ngược 21km về Khe Sanh, và tụi mình đi 3 người, chở luôn anh chàng công an ngồi theo xe.

Gần tới Khe Sanh, anh công an hỏi đã cơm nước gì chưa, nếu chưa thì cứ tự nhiên dùng bữa. Tụi mình ghé vào quán ăn uống, Tiến nói cho mình biết, để cho tụi mình ăn uống đầy đủ như thế này chắc là sẽ có cuộc làm việc “đậm sâu – dài lâu” với công an, và đúng như vậy thật !

Công an Khe Sanh chắc chắn không mặn mà, thậm chí là nguyền rủa trường hợp của tụi mình : Đang ở Sài Gòn thời mới mở cửa, văn minh hiện đại nhất cả nước, tương đối dễ thở đôi chút, đầy đủ tiện nghi, tối tối không đi Dancing nhảy đầm thì la cà ở các tụ điểm ca nhạc nhẹ vui biết mấy. Du lịch tắm biển thì có Vũng Tàu, Nha Trang với hạ vàng biển xanh. Đổi gió thì lên Đà Lạt mộng mơ với mùa Thu mây ngàn. Cớ sao hai thằng vô công rỗi nghề này cỡi ngựa sắt mang ba lô đội mưa đội nắng lang thang bụi bặm những nơi khỉ ho cò gáy – thâm sơn cùng cốc làm gì ? Nói thiệt là đi chơi thì khó có ai tin, nên sau khi đã “làm việc kỹ càng” thấy tụi mình thuộc dạng “ngây thơ vô tội, không có gì nguy hiểm” nên công an Khe Sanh đề nghị tụi mình đi ngược về Huế và tốt nhất là về . . . Sài Gòn càng sớm càng tốt !

Lang thang cả ngày gần 200km, lại còn cộng thêm mấy tiếng đồng hồ “làm việc” với công an nên trời đã ngã về chiều sắp tối rồi, nếu rời nơi đây thì chỉ có đi về Đông Hà cách Khe Sanh 60km xa quá, nên tụi mình đề nghị nếu được thì cho tụi mình . . . ngủ một đêm trong đồn công an ! Một lúc sau tụi mình được dẫn vào một phòng nhỏ, tươm tất như phòng trọ với hai giường đơn và mùng màn đầy đủ. Hai anh em mình thuộc dạng người thật việc thật chuyên ở hiền gặp lành nên tối đó vô tư đi vào giấc ngủ nhẹ nhàng và dễ dàng.

Nhưng chắc anh em trong đồn công an còn xao xuyến vương vấn gì đó, không . . . ngủ được nên lúc 1g30 sáng lại gõ cửa phòng và . . . mời anh Nhơn lên “làm việc” ! Nhờ đi ngủ sớm nên giờ đó mình cũng đã đủ giấc, thoải mái đi lên văn phòng để “làm việc” với đồng chí Hồ Đ. Những gì cần cho vào biên bản thì đã ghi đầy đủ từ hồi chiều rồi, vòng vo một chặp thì đi đến việc chính là anh ta muốn giữ hộ chiếu của mình. Lúc đó mình bực mình phải lên tiếng là anh muốn “tịch thu” hộ chiếu của tôi thì ký cho tôi cái biên nhận vì hộ chiếu là tài sản của nhà nước – tài sản xã hội chủ nghĩa đó nha ! Mình cương lên nói vậy thôi, không biết đúng được bao nhiêu phần trăm ?

Lúc anh Hồ Đ. viết tờ biên nhận, mình lại thấy thương cho anh này. Anh thuộc tộc người Vân Kiều nên có họ Hồ – cả tộc người Vân Kiều đều lấy họ của Bác Hồ. Anh chàng hiền khô, chắc không muốn nhưng phải làm chuyện này vì cấp trên bắt làm vậy thôi, không nên chấp làm gì !

Anh cho biết sáng sớm sẽ có người đem hộ chiếu của mình về Huế và tụi mình làm ơn quay về Huế, lên sở công an Huế nhận lại hộ chiếu và tốt nhất là nên về Sài Gòn vì nếu càng đi ra phía bắc sẽ càng thêm rắc rối phiền phức. Xong việc mình về phòng và vô tư ngủ thẳng cẳng thêm một giấc cho tới sáng luôn. Kỷ niệm đáng nhớ nữa là lúc đi ngang qua cái sân rộng, đêm yên lặng trời trong, ánh trăng tỏa sáng vằng vặc rất ma quái rất đẹp !

Chuyến đi Đường Hồ Chí Minh để ghi hình mấy bộ tộc Chức – Mày – Rục – Arem phía tây tỉnh Quảng Bình dịp mùa xuân năm 1989, chỉ tới được quốc lộ 9 và Lao Bảo. Sau đó phải về Huế nhận hộ chiếu rồi tiến về Sài Gòn qua ngã Hội An – Qui Nhơn – Phan Rang, vòng lên Đà Lạt rồi xuống Sài Gòn. Tiếc là không có sẵn mấy tấm hình chụp chung với Phạm Nhật Tiến vì một số hình chụp bằng phim dương bản vẫn còn nằm ở nhà một người bạn bên Berlin – Đức. Bài viết này coi như một nén hương lòng thắp cho Phạm Nhật Tiến, một người bạn một người em rất năng nổ rất nhiệt tình rất dễ thương, đã ra đi mãi mãi ở tuổi 43 hơn 20 năm rồi !

Lui về quá khứ, đầu năm 1968 Khe Sanh được Mỹ kỳ vọng sẽ là nam châm thu hút đối phương để rồi dùng ưu thế hỏa lực vô tận tiêu diệt VC giống như trong thế trận Điện Biên Phủ. Quân đội Mỹ đã dựng lên một cụm cứ điểm Tà Cơn rất kiên cố trên diện tích 5km x 3km, có cả đường băng dài 3.000m cho phi cơ vận tải cỡ lớn C – 130 Hercules. Hệ thống phòng thủ gồm nhiều vật cản, công sự chiến đấu bằng bê tông, hố chiến đấu với hàng núi bao cát, hầm ngầm giao thông hào chiến hào liên hoàn, chung quanh lại có cả chục hàng rào dây kẽm gai bùng nhùng, các bãi mìn . . .

Phi trường Tà Cơn – Khe Sanh với phi đạo dài 3.000m, cho những phi cơ lớn lên xuống dễ dàng.

Mở đầu bằng trận Làng Vây lúc rạng sáng ngày 7 tháng 2 năm 1968, một căn cứ hỏa lực mạnh với nhiều đơn vị thuộc Lực lượng đặc biệt của Mỹ. Lần đầu tiên sự xuất hiện xe tăng PT – 76 của Giải Phóng Quân đã gây bất ngờ lớn, làm bàng hoàng lính Mỹ và lúc 10g cùng ngày, cờ của Giải Phóng Quân, Mỹ thường gọi là Vi Xi – VC – Việt Cộng đã tung bay ở cứ điểm làng Vây.

Trận Làng Vây đã làm bàn đạp để liền sau đó có trận chiến Khe Sanh mà cả thế giới đã chú ý, quan tâm tới. Nhà báo sử gia Stanley Karnow đã ghi lại : Tổng thống Mỹ Lyndon Johnson bị ám ảnh và lo sợ Khe Sanh sẽ lại là một Điện Biên Phủ, đã cho làm cả sa bàn Khe Sanh ngay trong Tòa Bạch Ốc để theo dõi thường xuyên, bắt tướng 4 sao tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam là William Westmoreland phải ký giấy cam đoan không được để mất Khe Sanh vì đó là danh dự của nước Mỹ.

Trận chiến Khe Sanh tháng 2 năm 1968.

Gồm nhiều đợt tấn công, chiến dịch Khe Sanh kéo dài 170 ngày, kết thúc lúc Mỹ phải rút khỏi Khe Sanh, đánh dấu sự thất bại của Hàng rào điện tử Mac Namara. Khe Sanh đã trở thành nơi mà lần đầu tiên quân đội Mỹ phải muối mặt để rút bỏ một căn cứ quân sự trọng yếu vì áp lực của đối phương.

Trong lúc vẫn còn đang giao tranh ác liệt tại Khe Sanh, tháng 3 năm 1968 bộ trưởng quốc phòng Mỹ Mac Namara bị “thuyên chuyển công tác”, bị đá lên để ngồi ghế chủ tịch Ngân Hàng Thế Giới – World Bank. Cũng trong tháng 3 năm 1968, tướng 4 sao tư lệnh quân đội Mỹ tại Việt Nam William Westmoreland cũng bị “luân chuyển cán bộ”, mời về Mỹ giữ chức tham mưu trưởng lục quân. Ngày 31 tháng 3 năm 1968 tổng thống Mỹ Lyndon Johnson đã phải lên truyền hình tuyên bố ngừng ném bom ở phía bắc Việt Nam và không ứng cử cho nhiệm kỳ tổng thống sắp tới sẽ tổ chức vào tháng 11 năm 1968.

Phi trường Tà Cơn – Khe Sanh với nhà trưng bày chứng tích chiến tranh.

Mùa xuân năm 1971, tại khu vực này lại nổ ra chiến trận lớn với cuộc hành quân Lam Sơn 719, bên Quân Giải Phóng gọi là chiến dịch Đường 9 – Nam Lào vì chiến sự xảy ra kéo dài khắp quốc lộ 9 bên Việt Nam và lấn qua biên giới Việt Nam – Lào, giao tranh ác liệt đến thị trấn Xê Pôn, sâu hơn 40km trong lãnh thổ nước Lào.

Đó là chuyện đau thương ngày xưa. Từ 1995 Việt Nam và Mỹ đã thân thiện với nhau, thậm chí Mỹ còn hợp tác quân sự, tặng cho Việt Nam tàu hải quân để đi tuần, bảo vệ lãnh hải. Ngày nay nhiều lãnh đạo cấp cao của Việt Nam đã “hy sinh”, gửi những đứa con yêu quí của mình qua nước Mỹ xa xôi để học tập, coi Mỹ như quê hương thứ 2, hơn nữa là sẵn sàng “tình nguyện” ở lại giúp nước Mỹ để thắt chặt mối quan hệ tốt đẹp của hai nước !

Khi gió quay cuồng sau cánh bay, Con tàu thét gầm, cho tim ngất ngây, Phi đạo chạy dài, anh cất cánh bay cao. (Tuyết trắng – Trần Thiện Thanh)

Hành trình đi trên Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 14, từ Sài Gòn đến Khe Sanh đã qua 1.050km, cộng thêm những đoạn đường đi chơi lẻ tẻ hoặc bị lạc đường thì con số trên thực tế đã được 1.500km. Như mình thấy được trên bản đồ thì Quốc lộ 14 coi như chấm dứt tại nơi cầu Đa Krông gặp Quốc lộ 9.

Đoạn đường tiếp tục sẽ là từ Khe Sanh đi Phong Nha – Kẻ Bàng, vượt qua vĩ tuyến 17 qua sông Hiền Lương, đã chia cắt đất nước 21 năm, để đi về phương bắc.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

 

0 Lời bình luận

Viết lời bình luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Liên Lạc

Thư từ xin gởi về nguyenchihoainhon @gmail.com

Số lượt trang đọc

34,282