Du ký “Ngược Đường Hồ Chí Minh”. Đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, từ Sài Gòn theo quốc lộ 14 xuyên Cao Nguyên Trung Phần ra đến Khe Sanh – Quốc lộ 9 – Quảng Trị. Từ Khe Sanh tiếp tục theo Nhánh Tây của Đường Hồ Chí Minh, đi trên lưng dãy Trường Sơn, sát biên giới Việt Nam – Lào ra đến Lam Kinh – Lam Sơn – Thanh Hóa.

Rời Đường Hồ Chí Minh tại khu vực huyện Lam Sơn ở vùng cao phía tây tỉnh Thanh Hóa, xuống đồng bằng đi ven theo sông Chu, rồi theo sông Mã để về thành phố Thanh Hóa. Từ Thanh Hóa hành trình đi kiểu chữ Z ngang qua nhà thờ Đá Phát Diệm, đến Ninh Bình. Từ Ninh Bình lại đi theo chữ Z về Nam Định.

Bài số 24 – bài kết của loạt du ký từ Sài Gòn ngược Đường Hồ Chí Minh ra Hà Nội. Từ Nam Định tiến về Hà Nội.

Từ Nam Định đi Hà Nội, chúng ta có thể đi vòng một tí về hướng đông, ghé qua Thái Bình và Hưng Yên, sau đó cũng về đến Hà Nội. Hành trình từ Sài Gòn ra Hà Nội lần này đã lang thang rong ruổi dài ngày lắm rồi nên mình chọn lộ trình ngắn nhất, ghé Phủ Lý để tiến về thủ đô. Từ trung tâm thành phố Nam Định, quốc lộ 21 đi theo hướng tây bắc, dẫn ta đến tỉnh Hà Nam.

Tạm biệt thành phố Nam Định.

Nhưng trước khi tạm biệt Nam Định, các bạn yêu nhạc tiền chiến chắc thế nào cũng nhớ đến một nhạc sĩ đẹp trai – tài hoa – đoản mệnh của thành phố này : Đặng Thế Phong, 1918 – 1942. Trong cuộc đời ngắn ngủi chỉ 24 năm trên cõi trần gian, Ông như con thuyền không bến lang thang lưu lạc khắp nơi : Sinh ra và lớn lên tại Nam Định, lên Hà Nội theo học ở trường Cao Đẳng Mỹ Thuật một thời gian ngắn rồi vào Sài Gòn, sau đó trôi lạc lên Phnom Penh dạy nhạc, mỗi nơi chỉ vài tháng rồi lại quay về Hà Nội.

Nhạc sĩ tài hoa – đẹp trai – đoản mệnh của Nam Định : Đặng Thế Phong.

Ông để lại cho đời 3 nhạc phẩm, đều viết về mùa Thu đất Bắc : “Đêm thu” là bài đầu tiên, viết năm 1940 theo nhịp 3/4 – điệu Valse lả lướt bay bổng với lời nhạc sang trọng và trầm mặc như một bài Đường thi.

Nhạc phẩm được nhiều người biết đến, là sáng tác thứ nhì của Ông : “Con thuyền không bến”, được lấy nguồn cảm hứng từ một đêm trăng trên con sông Thương ở Bắc Giang và hoàn thành ở Phnom Penh – Campuchia mùa thu năm 1941. Chính tác giả đã trình bày nhạc phẩm này nhiều lần trên sân khấu rạp Xinêma Olympia ở phố Hàng Da – Hà Nội.

Bản nhạc thứ ba và cũng là tác phẩm cuối cùng, được Ông viết trên giường bệnh lúc đã bị lao phổi nặng, mang tên “Vạn Cổ sầu” nhưng vì đọc lên nghe có vẻ sầu thảm quá nên được đổi thành “Giọt mưa thu”. Đặng Thế Phong từ giã cõi trần vào tháng 8 năm 1942, trên một căn gác hẹp ở phố Hàng Đồng, trung tâm Phố Cũ – Nam Định, hưởng dương chỉ 24 năm.

17 năm sau, năm 1959 tại Sài Gòn, một chàng nhạc sĩ trẻ mới 20 tuổi gốc Huế, trong những lần la cà ở phòng trà ca nhạc vũ trường đã được thưởng thức và đồng cảm với một cô ca sĩ học trò còn trẻ tuổi hơn anh nữa. Cũng cùng gốc Huế, khi cô trình bày nhạc phẩm “Giọt mưa thu”, thổn thức và đã không ngăn được giòng nước mắt. Không lâu sau đó, chàng nhạc sĩ đã viết tặng cô ca sĩ này nhạc phẩm “Ướt mi”.

Chàng nhạc sĩ trẻ là Trịnh Công Sơn vừa qua tuổi 20, cô ca sĩ tuổi học trò đã trình bày rất thành công nhạc phẩm “Ướt mi” là ca sĩ Thanh Thúy, khi đó mới 16 tuổi, đi hát ở phòng trà để kiếm tiền chữa bệnh lao phổi cho mẹ. Ướt mi được xem là nhạc phẩm đầu tiên của Trịnh Công Sơn được trình bày trước công chúng.

Quốc lộ 21 dẫn ta từ Nam Định đến Phủ Lý theo hướng tây tây bắc, phía nam – bên trái đường là huyện Vụ Bản và phía bắc – bên phải đường là huyện Mỹ Lộc.

Bạn nào muốn, có thể ghé qua tham quan Khu du lịch sinh thái Núi Ngăm ở thôn Kim Thái xã Minh Tân huyện Vụ Bản, gần Phủ Dầy và chỉ cách thành phố Nam Định 13km về hướng tây nam.

Khu du lịch sinh thái Núi Ngăm – Nam Định.

Giữa đồng bằng, trồi lên ngọn núi Ngăm. Khu điều dưỡng của nhà máy dệt Nam Định ngày xưa, bây giờ là Khu du lịch sinh thái Núi Ngăm, rộng 15ha nằm trong rừng thông vi vu. Con sông Sắt thơ mộng chảy qua khu du lịch này rồi nhập vào sông Đáy sau 18km.

Đây là mô hình du lịch mới, có thể gọi là mô hình . . . “tạp hóa” , “thập cẩm” hoặc gọi là “tạp pí lù” cũng được, gồm nhiều đề tài cho nhiều khu vực : Khu nghỉ dưỡng, khu cắm trại, khu vui chơi cho trẻ em, khu trò chơi cho người lớn, và không được phép thiếu khu chụp hình để . . . sống ảo !

Đặc biệt, khu du lịch này thu hút được nhiều nhóm lớn từ các trường học nhờ những khu giáo dục trải nghiệm, như về nông nghiệp có các hoạt động trồng – cày – cấy lúa – bắt cá v. . . v. . . Có khu chăn nuôi – chuồng trại, khu vườn thực vật, vườn cây thuốc v. . . v. . . Lại có cả khu trải nghiệm các nghề truyền thống thủ công mỹ nghệ như : Đồ gốm – làm hoa giả – khắc tranh gỗ – đan lát mây tre lá v. . . v. . .

Và để bắt kịp trào lưu . . . “Buôn thần bán thánh”, rất thông dụng – phổ biến – hốt bạc hiện nay trên cả nước ta, khu du lịch này cũng đã tìm mọi cách để dựng lên một “Khu tâm linh” để không bị thua những nơi khác !

Trước khi rời Vụ Bản – Nam Định để bắt đầu vào địa phận tỉnh Hà Nam, chúng ta nhớ đến một người con của vùng này, thường được người hâm mộ gọi là “Thi sĩ của yêu thương” qua những vầng thơ đậm chất trữ tình – quê hương – dân giã của Ông : Nguyễn Bính, 1918 – 1966, tên đầy đủ là Nguyễn Trọng Bính.

Thi sĩ Nguyễn Bính qua nét ký họa của Tạ Tỵ

Trước năm 1945, Nguyễn Bính đã lưu lạc vào Sài Gòn. Nam Bộ Kháng Chiến bùng nổ, Ông gia nhập đội ngũ Vệ Quốc Đoàn quân khu 8. Tư lệnh Trần Văn Trà và chính ủy Nguyễn Văn Vịnh đã dặn dò và nhắn nhủ với nhà thơ Bảo Định Giang : Đối đãi đàng hoàng, chăm sóc chu đáo tác giả “Lỡ bước sang ngang” !

Chính quyền của xứ “Cộng Hòa Nam Kỳ tự trị” do Pháp dựng từ mùa hè 1946 đã treo giải thưởng với số tiền rất lớn, cho ai đưa được nhà thơ Nguyễn Bính “dinh tê – bỏ kháng chiến về thành phố”. Nếu nhà thơ tự vào thành phố cũng được hưởng như thế.

Lúc đó Ông đang hoạt động ở ấp Hương Mai xã Khánh Lâm thuộc rừng U Minh – Rạch Giá. Máy bay Pháp thường bay dài theo kênh Chắc Băng xuống Thới Bình, rải truyền đơn bay đầy trời kêu gọi đích danh tác giả “Lỡ bước sang ngang” – Nguyễn Bính quay về với chính nghĩa Quốc Gia để được trọng đãi. Nhưng trong một bài thơ, Ông đã khẳng định lý tưởng của đời mình :

Mình không bỏ Sở sang Tề
Mình không là kẻ lỗi thề thì thôi.

Dân Nam Bộ hồi đó biết chuyện nên rất thích và gọi Nguyễn Bính là có chí khí của một sĩ phu yêu nước. Ngoài nhiều tập thơ tình, Ông còn có nhiều thơ kháng chiến trong thời đánh giặc Pháp ở Nam Bộ.

Chắc mọi người sẽ ngạc nhiên lẫn thích thú và vô cùng bất ngờ khi biết là bài thơ “Cửu Long Giang” của Nguyễn Bính sáng tác, đăng trên báo Tổ Quốc ở khu 8, được nhạc sĩ Nguyễn Hữu Trí phổ nhạc thành bài “Tiểu đoàn ba lẻ bảy” theo nhịp quân hành vui tươi – mạnh mẽ – hào hùng với ca từ chắc nhịp dễ nhớ, thành công vang dội với giọng ca Tenor của Quốc Hương, 1920 – 1987, trên các nẻo đường Nam Bộ Kháng Chiến và đã trở thành bất tử trong lòng người Việt Nam.

Năm 1954 theo Hiệp Định Genève, Nguyễn Bính cũng như nhiều chục ngàn cán bộ Việt Minh khác, được tập kết ra miền Bắc. Ông về công tác tại nhà xuất bản Văn Nghệ, sau đó làm chủ bút báo Trăm Hoa một thời gian ngắn.

Thơ của Nguyễn Bính trữ tình, mang sẵn chất nhạc nên thơ của Ông được nhiều nhạc sĩ phổ nhạc. “Cô hái mơ” là bài thơ của Ông, lấy bối cảnh trong một chuyến đi chơi chùa Hương cùng bạn bè, được đăng báo khoảng 1939 – 1941, và nhạc sĩ trẻ lúc đó là Phạm Duy đã phổ nhạc bài thơ này.

“Cô hái mơ” trở thành nhạc phẩm đầu tay của Phạm Duy. Nguyễn Đình Phúc đã phổ nhạc bài thơ “Cô lái đò”. Bài “Gái Xuân” được Từ Vũ phổ nhạc trong một dịp xuân về ở Sài Gòn, lập tức được mọi người yêu thích và đã tái bản rất nhiều lần.

Phạm Duy vô cùng tài tình khi biến bài thơ “Nụ tầm xuân” thành một bản nhạc đầy tình tự của đôi nam nữ có duyên mà không có nợ với nhau. Nhạc sĩ Đức Quỳnh đưa chúng ta ngược về khung cảnh ngày xưa, của một đôi nam nữ trong “Thoi tơ” với giai điệu Valse dìu dặt. Đặc biệt bài thơ “Ghen” đã được Trọng Khương biến thành một bản nhạc với giai điệu Swing vui nhộn.

Chuyện sinh – tử của thi sĩ Nguyễn Bính đều xảy ra vào dịp Tết. Ông sinh ngày mồng 3 Tết Mậu Ngọ 1918 ở huyện Vụ Bản – Nam Đinh và từ giã cõi trần trong đêm Giao thừa 29 Tết Bính Ngọ 1966, gần quê nhà.

Km 32 – Phủ Lý.

Phủ Lý là thủ phủ của tỉnh Hà Nam, cửa ngõ phía nam của Hà Nội. Do gần về đến Hà Nội nên mọi người chỉ đi ngang qua tỉnh Hà Nam cũng như thành phố Phủ Lý chứ ít khi ghé qua đây, vì chỉ còn cách Hà Nội 57km. Sau khi có đường cao tốc, từ Ninh Bình và từ Phủ Lý đi Hà Nội lại có vẻ như là “gần hơn”.

Tỉnh này có nhiều núi đá vôi, thế nên có nhiều nhà máy sản xuất Xi Măng, cũng có nhiều đất sét để sản xuất gạch ngói xây dựng, và rất nhiều địa phương có những khối đá bị nước bào mòn qua hàng triệu năm rất đẹp, thấy bán nhiều ở hai bên ven quốc lộ 1, dùng cho hòn non bộ trong hồ cá hoặc dùng trong phong thủy.

Trước khi vào Phủ Lý khách đi đường sẽ thấy ở ngoại ô thành phố này hai bệnh viện rất lớn “ăn theo” tên tuổi đã có từ Hà Nội : Bệnh viện Bạch Mai cơ sở 2 và Bệnh viện Việt – Đức cơ sở 2. Mặc dù là đang đi chơi nhưng thấy những chuyện chướng tai gai mắt chúng ta không ngoảnh mặt làm ngơ được. Thấy ở Hà Nội kiếm tiền nhiều quá dễ quá nên tụi trọc phú cấu kết với bọn quan tham nhũng tìm cách lấn sân ở mấy tỉnh nhỏ để làm đầy túi tham không đáy của chúng nó.

Xây bệnh viện để phục vụ nhân dân thì rõ ràng là tuyệt vời, nhưng núp sau chuyện thành lập bệnh viện để ăn chặn – tham ô – tư túi như tại nhiều nơi trên một đất nước mang bảng hiệu là Xã hội Chủ nghĩa như ở nước ta thì thực sự là một việc mỉa mai cay độc vô bờ bến mà chính quyền và pháp luật còn quá rón rén nhỏ nhẹ khi nhắc đến tụi quan tham này và chỉ nhẹ nhàng – từ tốn – nương tay khi xử tội tụi đã bị lộ.

Còn tụi chưa bị truy tố thì vẫn nằm yên đó, đang run sợ ôm cả núi tiền tham ô và siêng năng đi chùa – đền – miếu để cầu xin Thần – Thánh phù hộ đừng bị khui ra ! Nhưng làm gì có Thần – Thánh nào mà phù hộ cho bọn tham nhũng khốn nạn này. Lưới trời lồng lộng – Thiên bất dung gian, cuối cùng tiền tham ô cũng “của thiên trả địa” hết.

Đã từ lâu chuyện nghành y tế ở nước ta tiếp tay cho tụi tham ô, đã tìm mọi cách để làm tiền một cách vô liêm sỉ vô tội vạ trên nỗi thống khổ trên sự khó khăn của bệnh nhân nghèo là điều phổ biến, đã bị phanh phui một số việc nhưng vẫn chưa thấm gì so với hàng ngàn vụ việc tham ô trong ngành y tế.

Không nhứt thiết phải kể ra đây những chi tiết nhưng vụ việc động trời ở bệnh viện tim Hà Nội và ngay cả bệnh viện Bạch Mai Hà Nội, thì hiện nay hàng loạt lãnh đạo cũng như cựu lãnh đạo của 2 bệnh viện này đang bị tù để điều tra về những chuyện tham ô khủng khiếp, cực kỳ dơ bẩn khốn nạn.

Phủ Lý là nơi gặp nhau của 3 con sông : Sông Đáy – sông Nhuệ – sông Châu Giang. Sông Đáy chảy giữa trung tâm theo hướng bắc – nam, chia Phủ Lý thành 2 phần : Phố Tây và Phố Đông. Phố Cũ đông vui thân quen, có từ xa xưa nằm bên phần Phố Đông.

Tới khu vực Phố Cũ, thấy có đường Biên Hòa mình quẹo vào. Chắc là thành phố Phủ Lý kết nghĩa với thành phố Biên Hòa của tỉnh Đồng Nai trong miền Đông Nam Bộ nên mới có tên đường như vậy. Tình cờ lại gặp đúng ngay một tiệm bán bánh cuốn rất ngon ở trên con đường này, cũng vừa là lúc dừng xe để “nghỉ lưng” một chút.

Thành phố Phủ Lý kết nghĩa với thành phố Biên Hòa ở Đông Nam Bộ nên có con đường Biên Hòa tương đối to lớn sầm uất nơi đây.

Một kỷ niệm với thành phố Phủ Lý này là lúc vừa quẹo phải thì mình liền bị một anh công an trẻ thổi còi vì lỗi “quẹo phải mà không bật đèn báo quẹo”. Mình vừa cười vừa nêu ý kiến là em bắt lỗi này thì mỗi ngày chắc chắn sẽ có vài triệu vụ vi phạm luật giao thông như vậy trên đất nước Việt Nam mình.

Anh chàng chắc cũng không sung sướng và tự hào với những “thành tích bắt người” như thế và cũng chẳng phát biểu gì nên mình “đề nghị nộp phạt tại chỗ”, coi như nộp lệ phí cầu đường cho hành trình hơn 2.000km từ Sài Gòn đi lòng vòng ra Hà Nội.

Chùa Tam Chúc.

Mới đây, du khách đến Phủ Lý có dịp đi tham quan một ngôi chùa với nhiều kỷ lục : Chùa Tam Chúc. Chùa này ở thị trấn Ba Sao – huyện Kim Bảng – Hà Nam, cách Phủ Lý về hướng tây bắc chỉ 12km và cách chùa Hương 5km.

Chùa Tam Chúc – Hà Nam.

Có vô số chuyện lùm xùm chung quanh chùa này cũng như chùa Bái Đính ở Ninh Bình và chùa Ba Vàng ở Quảng Ninh : Từ chuyện “chủ đầu tư”, chuyện giấy phép đất đai, chuyện tư cách pháp nhân đến chuyện “kinh doanh”, chuyện tài chánh, chuyện quản lý – điều hành v. . . v. . . nên mình ngao ngán và không muốn nói thêm về những chùa này.

Bạn nào có đủ thời giờ, có thể “Nhất cử lưỡng tiện”, kết hợp viếng chùa Tam Chúc và đi thăm chùa Hương trong cùng một ngày. Từ chùa Tam Chúc, đi thêm 5km về hướng tây bắc, đến khu danh lam thắng cảnh nổi tiếng bậc nhất ở miền Bắc là chùa Hương.

Khái niệm đi chùa Hương là nói về cả một quần thể văn hóa – tôn giáo ở xã Hương Sơn huyện Mỹ Đức tỉnh Hà Tây cũ, bây giờ thuộc về Hà Nội. Chùa Hương, còn được gọi là chùa Hương Sơn hoặc chùa Hương Tích, nằm bên hữu ngạn sông Đáy, chung quanh có hàng chục ngôi chùa thờ Phật và nhiều ngôi đền thờ Thần.

Ở Hà Tĩnh cũng có một ngôi chùa Hương Tích nằm trên lưng chừng núi, thường được mây mù bao phủ che khuất, thuộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh, gồm 3 khu là : Am Thánh Mẫu, đền Thiên Vương và Thượng Điện. Chùa Hương Tích – Hà Tĩnh chỉ trùng tên chứ không liên quan gì đến chùa Hương Tích – Hà Tây cũ.

Chùa Hương.

Xuất phát từ Bến Đục bên Suối Yến, thuyền nhỏ chở khách lênh đênh – quanh co – uốn lượn theo Suối Yến chừng 4km, đến chân núi Hương Sơn, nơi có lối dẫn lên động Hương Tích có chùa chính. Lối xuống hang có cổng lớn với 4 chữ “Hương Tích động môn”.

Thuyền lênh đênh trên Suối Yến.

Năm Canh Dần 1770, chúa Tĩnh Đô Vương – Trịnh Sâm, 1739 – 1782, đã ghé tham quan động Hương Tích và ban tên cho động này là “Nam Thiên Đệ Nhất Động”. Năm chữ Nam Thiên Đệ Nhất Động – bút tích của chúa Trịnh Sâm, được khắc bằng tiếng Hán trên vách đá ở lối vào động.

Trong động Hương Tích.

Lễ hội chùa Hương hàng năm kéo dài từ mồng 6 Tết đến tháng 3 âm lịch. Thời gian này khách hành hương từ khắp các tỉnh miền Bắc kéo về đây rất đông, chen lấn nhau mất trật tự ghê lắm. Khí hậu cuối đông đầu xuân mát mẻ dễ chịu trong khung cảnh tuyệt đẹp của nước – non – sông – núi với muôn hoa và muôn hương sẽ để lại trong tâm trí du khách những hình ảnh đẹp của chuyến trẩy hội chùa Hương.

Chùa Hương – Hà Tây cũ.

Khách hành hương không nhất thiết phải leo qua mấy trăm bậc thang để đến chùa Hương – động Hương Tích vì từ năm 2006 đã có cáp treo, dài 1.200m nối Thiên Trù đến Hương Tích. Tuy đã bị những người bảo vệ môi trường kịch liệt phản đối nhưng cuối cùng cáp treo vẫn “bị xây dựng” và hoàn thành !

Để góp phần hủy diệt môi trường và nét đẹp của phong cảnh Chùa Hương, đã có cáp treo !

Du khách ghé chùa Hương vào dịp mùa thu từ tháng 9 đến tháng 11 dương lịch là sự chọn lựa cho chuyến du lịch êm đềm không chen lấn, ít bị chặt chém. Trên giòng Suối Yến nở rộ hoa Súng khắp nơi, cùng với những cánh đồng cỏ lau hai bên bờ suối.

Thế hệ tụi mình, năm xưa chắc là lớp 9 hay lớp 10, trong giờ Quốc Văn được biết bài thơ “chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, 1914 – 1938, nhà thơ tiền chiến tài hoa nhưng đoản mệnh. Đây là bài thơ 5 chữ rất dài, nói lên tâm sự của cô bé 15 tuổi – tiểu thư Hà Nội, cùng bố mẹ đi vãn cảnh chùa Hương và tình cờ gặp người con trai của đời mình. Xin được trích vài đoạn để chúng ta cùng thưởng thức.

Em đi, chàng theo sau.
Em không dám đi mau,
Ngại chàng chê hấp tấp,
Số gian nan không giàu.

Rồi một thoáng sau đó :

Làn gió thổi hây hây,
Em nghe tà áo bay,
Em tìm hơi chàng thở !
Chàng ôi, chàng có hay ?

Và kết thúc với ước mơ :

Ngun ngút khói hương vàng,
Say trong giấc mơ màng
Em cầu xin Giời Phật
Sao cho em lấy chàng.

Tác giả Nguyễn Nhược Pháp còn hóm hỉnh ghi thêm một câu kết, nhận xét về cô tiểu thư 15 tuổi này như sau :

Nhật ký của cô gái đến đây là hết. Tôi nghĩ, hai người sẽ lấy nhau vì lấy nhau là hết chuyện, nếu không thì nhật ký của cô gái này sẽ còn nhiều bài thơ nữa !

Trong các thi sĩ tiền chiến, Lưu Trọng Lư có bài thơ ngắn rất hay, thể loại 5 chữ, tên “Tiếng thu”. Cũng là thơ 5 chữ, Vũ Đình Liên trình làng bài “Ông đồ già”, đã làm nên tên tuổi của Ông. Và “Chùa Hương” của Nguyễn Nhược Pháp, cũng vẫn là thể thơ 5 chữ, chắc chắn là lời giới thiệu và quảng bá tốt nhất để lôi cuốn khách hành hương ghé tham quan chùa Hương.

Km 56 – Bảo tàng nhà tù Phú Quốc.

Theo quốc lộ 1, vừa qua ga xe lửa và bưu điện huyện Phú Xuân, có bảng hướng dẫn quẹo phải vào con đường nhỏ, đi khoảng 2km chúng ta đến Bảo tàng Chiến sĩ Cách Mạng bị địch bắt tù đày.

Trước năm 1975, ở cực nam đảo Phú Quốc tại xã An Thới, gần những bãi biển đẹp nhất đảo là Bãi Sao và Bãi Khem, tồn tại một nhà tù lớn nhất Việt Nam : Tên chính thức là Trại giam tù binh cộng sản Việt Nam tại Phú Quốc.

Lúc đông nhất có 32.000 tù binh, cộng với 8.000 tù chính trị. Trong số này, hơn 9.000 người là bộ đội từ miền Bắc vượt Trường Sơn vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Sau Hiệp Định Paris 27 tháng 1 năm 1973, đã có những cuộc trao đổi tù binh và nhiều tù binh Phú Quốc được về lại quê nhà ở miền Bắc.

Gần 30 năm, ông Lâm Văn Bảng cùng các đồng đội cựu tù Phú Quốc đã lặn lội khắp nơi, sưu tầm tìm kiếm được hơn 3.000 hiện vật, tư liệu quí báu liên quan đến nhà tù Phú Quốc. Những hiện vật này được trưng bày trong căn nhà cấp 4 của ông, nằm trong khu vườn rộng 2.000m2 ở Phú Xuyên – Hà Nội.

Ông Lâm Văn Bảng, cựu tù binh Phú Quốc, sưu tầm và dựng lên bảo tàng này.

Bảo tàng không chỉ là nơi các cựu tù Phú Quốc làm nơi gặp gỡ – sinh hoạt – hoài niệm mà còn là địa điểm tham quan của người dân cả nước và có sức thuyết phục rất lớn. Được thành lập năm 2006 và gọi là “Phòng truyền thống chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày” với qui mô nhỏ, sau này có thêm nhiều hiện vật, qui mô lớn dần và trở thành “Bảo tàng chiến sĩ cách mạng bị địch bắt tù đày”.

Nằm ở địa điểm thuận tiện, gần quốc lộ 1 và chỉ cách Hồ Hoàn Kiếm – Hà Nội 33km, bảo tàng này được nhiều người quan tâm đến lịch sử Việt Nam thời cận đại ghé thăm.

Km 89 – Phố Cổ Hà Nội.

Những cây số cuối cùng của hành trình Sài Gòn – Hà Nội, lần lượt đi thẳng theo quốc lộ 1 qua Thường Tín – Văn Điển – Ga Hàng Cỏ Hà Nội, lưu lượng xe đông dần. Cũng như những lần đến Hà Nội, mình ưu tiên chọn phòng ngay trong khu Phố Cổ, tuy phòng nhỏ và giá không được rẻ nhưng đầy đủ tiện nghi và thuận lợi cho những lần dạo bộ lang thang khắp mọi con phố – con đường – con hẻm nơi đây, rất thú vị.

Ngõ Tạm Thương, Phố Cổ – Hà Nội.

Cảm ơn các bạn đã bỏ nhiều sức lực “nhọc nhằn đồng hành” với mình qua chuyến đi dài hơn 2.000km, từ Sài Gòn ngược Đường Hồ Chí Minh xuyên Cao Nguyên Trung Phần, ra đến Hà Nội. Cùng ngây ngất trước vẻ đẹp của quê hương Việt Nam chúng ta, cùng thưởng thức những món ngon vật lạ trên mọi miền đất nước, cùng vui mừng với những thành tựu có được và cả những bức xúc – đau đớn – trăn trở trước muôn vàn tiêu cực đang diễn ra trên khắp các miền Tổ Quốc.

Sẽ nghỉ ngơi ở Hà Nội vài ngày cho “phục hồi sinh lực, lấy lại phong độ” để tiếp tục đi hai chặng đường vô cùng hấp dẫn sắp diễn ra : Đi dọc mấy trăm cây số theo đường Tuần tra Biên Giới phía Đông Bắc, từ Lạng Sơn tới Móng Cái và cả ngàn cây số núi rừng âm u Tuần tra Biên Giới phía Tây Bắc, từ Lũng Pô – Sông Hồng đi về hướng tây.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

 

0 Lời bình luận

Viết lời bình luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Liên Lạc

Thư từ xin gởi về nguyenchihoainhon @gmail.com

Số lượt trang đọc

37,899

Tìm Kiếm