Bài số 16. Thành Sơn Phòng – Hương Khê và chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi

-

Du ký ngược Đường Hồ Chí Minh, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, từ Sài Gòn theo quốc lộ 14 xuyên Cao Nguyên Trung Phần ra đến Khe Sanh – Quốc lộ 9 – Quảng Trị. Tiếp tục đi trên Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15, từ động Phong Nha – Quảng Bình đến Hương Khê – Hà Tĩnh.

Bài số 16. Thành Sơn Phòng – Hương Khê và chiếu Cần Vương của vua Hàm Nghi. Tấm hình “O du kích nhỏ giương cao súng”. Và 10 Cô Thanh Niên Xung Phong ở Ngả 3 Đồng Lộc.

Hương Khê là thị trấn nằm trên Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15. Buổi tối ngoài mấy quán nhậu la hét dzô dzô ầm ĩ thì phố xá im lìm. Ngay giữa thị trấn, bên con đường chính chạy xuyên phố có hồ Bình Sơn. Vỉa hè và bờ kè bên hồ rộng thoáng, dưới tán rộng của nhiều cây bàng cao lớn tỏa bóng mát. Ven hồ có nhiều hàng nước, nơi hẹn hò của những đôi bạn trẻ, rầm rì trò chuyện với nhau, cùng đếm sao trời, cùng dệt mộng tương lai.

Đền trong khuôn viên thành Sơn Phòng – Hương Khê.

Các bạn trẻ của Hương Khê ngày nay chắc ít người biết là ngay tại nơi đây, trước 136 năm, cuối mùa hè năm 1885, một ông vua trẻ mới 14 tuổi, cùng “triều đình” chừng vài trăm người tùy tùng, sau mấy tháng rời kinh đô Huế, phải bôn ba tránh giặc Pháp, chạy lánh nạn khắp các chốn rừng sâu nước độc trên rừng Trường Sơn, từ Lào về đến Hương Khê.

Trước đó, đêm 4 rạng sáng ngày 5 tháng 7 năm 1885, tức là đêm 22 rạng sáng 23 tháng 5 âm lịch, quân triều đình Huế dưới quyền quan đại thần Tôn Thất Thuyết, tấn công đồng loạt vào những cơ sở căn cứ của Pháp tại Huế nhưng đến sáng sớm đã bị quân Pháp phản công dữ dội, đánh trả mạnh khiến vua quan triều Nguyễn thất bại, phải bỏ kinh thành chạy lánh nạn.

Nhiều ngàn người dân vô tội đã bị giặc Pháp giết trong cơn loạn lạc này. Hầu như gia đình nào ở Huế cũng có người bị chết trong cuộc binh biến này nên ngày 22 và 23 tháng 5 âm lịch hàng năm đã trở thành ngày giỗ chung cho toàn dân thành phố Huế. Có lần mình có mặt ở Huế trong những ngày này, đi đâu cũng thấy có bàn thờ để ngoài sân, bày đồ cúng cùng với nhang hương nghi ngút nên ngạc nhiên quá. Hỏi thăm thì mới biết đó là ngày đau buồn của những gia đình có người thân chết trong ngày Pháp đánh phá và tương kế tựu kế cướp sạch ngọc ngà châu báu trong kinh thành Huế.

Thượng thư Bộ Binh Tôn Thất Thuyết hộ giá vua Hàm Nghi chạy ra Quảng Trị, lên căn cứ trên rừng Tân Sở và xuống chiếu Cần Vương lần thứ nhất. Sau đó để bảo toàn lực lượng, cả “Triều đình” vài trăm người phải khổ sở trốn tránh trên rừng Trường Sơn, phía tây Quảng Trị và Quảng Bình, có lúc phải lánh qua Lào và giữa tháng 9 về tới thành Sơn Phòng gần Hương Khê – Hà Tĩnh.

Hàm Nghi, 1871 – 1944, Ông vua yêu nước thương nòi, phải sống kiếp lưu vong đến cuối đời.

Thành Sơn Phòng chỉ cách thị trấn Hương Khê và Đường Hồ Chí Minh ngày nay 4km về hướng tây. Là một căn cứ phòng thủ gần như hình vuông 204m x 214m, chân thành rộng 9m, cao 1m – 2m, mặt thành rộng 7m. Chung quanh có hào nước sâu 1,7m rộng 6m. Thành được dùng làm căn cứ đại bản doanh để tập họp, huấn luyện binh lính.

Và cũng tại nơi đây, ngày 20 tháng 9 năm 1885 vua Hàm Nghi lại xuống chiếu Cần Vương lần thứ nhì, tố cáo âm mưu xâm lược của giặc Pháp, đồng thời kêu gọi sĩ phu – văn thân – nhân dân cả nước đứng lên giúp vua kháng chiến, bảo vệ nền độc lập tự chủ cho quê hương đất nước. Quan Ngự Sử Phan Đình Phùng được vua Hàm Nghi phong làm Tán Lý Quân Vụ, thống lĩnh các đạo nghĩa binh Cần Vương.

Mặc dù danh nghĩa Cần Vương là giúp vua nhưng thực tế đây là phong trào yêu nước chống giặc Pháp của toàn dân Việt Nam, trong thời kỳ này hoàn toàn không có sự tham gia của quân đội triều đình. Lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa chống quân Pháp không phải là các võ quan triều Nguyễn mà là các sĩ phu văn thân cùng quần chúng nhân dân yêu nước, chung nỗi đau mất nước đã tự nguyện đứng lên chống thực dân Pháp xâm lược.

Vua mới, đang ở trên ngai là Đồng Khánh cùng với 3 bà Thái Hậu liên tục gửi thư kêu gọi vua trở về nhưng vua Hàm Nghi luôn khẳng khái từ chối. Sau hơn 3 năm kháng chiến gian khổ, lặn lội khắp các chiến khu trên rừng Trường Sơn, đầu tháng 11 năm 1888, vua Hàm Nghi bị Trương Quang Ngọc và Nguyễn Đình Tình trong đội bảo vệ đã phản bội, bắt ông trao cho Pháp.

Vua Hàm Nghi trở thành biểu tượng của nền độc lập quốc gia. Trong cả nước từ Bắc chí Nam, khắp nơi dân chúng đều hăng hái dũng cảm đứng lên quyết tâm đánh giặc Pháp theo lời kêu gọi của ông. Thực dân Pháp lo sợ sự có mặt của ông sẽ tiếp tục làm bùng lên ngọn lửa kháng chiến đã bộc phát nên nhanh chóng cho vua Hàm Nghi lên chiến hạm Biên Hòa tháng 12 năm 1888, đày ông đi an trí tại Alger, thủ đô của xứ Algerie thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi Châu.

Ở kinh thành Huế thời bấy giờ có câu :

Một nhà sinh được ba vua,
Vua còn, vua mất, vua thua chạy dài.

Vua còn, là Đồng Khánh – Nguyễn Phúc Ưng Kỷ đang ngồi trên ngai vàng. Vua mất một cách mờ ám lúc mới 15 tuổi, tại vị vừa được 8 tháng là Kiến Phúc – Nguyễn Phúc Ưng Đăng, và vua thua chạy dài là Hàm Nghi – Nguyễn Phúc Ưng Lịch. Ba ông vua này đều là con của Kiên Thái Vương – Nguyễn Phúc Hồng Cai, em ruột vua Tự Đức.

Sống lưu vong nhưng cựu Hoàng giữ gìn rất kỹ phong tục tập quán của dân tộc Ta, đầu tóc búi tó quần the áo dài Việt Nam. Thời gian đầu ông lạnh nhạt, tỏ thái độ bất cộng tác, không muốn học tiếng Pháp nhưng sau đó thấy người Pháp nơi đây không ác độc – dã man – xấu xí như tụi thực dân Pháp ở bên xứ ta nên ông chịu học tập, tìm hiểu ngôn ngữ, văn minh Pháp và tiến bộ rất nhanh rất tốt.

Năm 1904 lúc 33 tuổi, ông kết hôn với cô Marcelle Laloe, 1884 – 1974, con gái ông Laloe chánh án tòa thượng thẩm Alger. Ba người con của hai ông bà, 2 gái một trai, có học vấn rất cao, được cựu Hoàng truyền cho nếp sống nhân văn, lòng tự trọng và yêu thương gắn bó với quê hương đất nước. Ông thường tâm sự với các con : “Vous ne pouvez pas être de bon Vietnamien, soyez de bien Francais – Các con không được làm người Việt Nam tốt thì hãy là những người Pháp tốt” !

Đám cưới của Ông Hoàng An Nam – vua Hàm Nghi với cô Marcelle Laloe năm 1904 tại Alger – thủ đô của Algerie, một quốc gia thuộc Pháp ở Bắc Phi Châu.

Con trai ông – Hoàng tử Minh Đức, 1910 – 1990, từng là sĩ quan trong quân đội Pháp. Năm 1946, khi nhận sự vụ lệnh qua Đông Dương, ông đã kiên quyết từ chối và phát biểu : “Tôi không thể cầm súng bắn đồng bào tôi. Nếu chính phủ Pháp đưa tôi ra trước tòa án quân sự thì tôi phải chịu nhưng tôi không thể đi sang Việt Nam đánh giặc cho người Pháp, chống lại người Việt Nam”. Sau đó, chính phủ Pháp đã điều ông qua Algerie, một thuộc địa của Pháp ở Bắc Phi Châu.

Vua Hàm Nghi đã để lại cho nhân dân Việt Nam tinh thần dân tộc không bao giờ phai mờ của một vị vua yêu nước, bị phải sống kiếp lưu vong đến cuối đời. Chính quyền Việt Nam hiện nay, tuy không “mặn mà” với vương triều Nguyễn nhưng vẫn trân trọng dành cho Ông một chỗ xứng đáng trong lịch sử. Ông mất năm 1944 tại Alger, sau này được cải táng về nghĩa trang làng Thonac tỉnh Dordogne, vùng Aquitaine tây nam nước Pháp, bên cạnh mộ bà Hoàng Marcelle Laloe cùng các con.

Đúng 80 năm sau, trên mảnh đất Hương Khê này lại xảy ra giặc giã chiến tranh, và lần này là từ . . . trên trời !

Tình cờ cũng đúng là ngày 20 tháng 9 nhưng cách đến 80 năm sau, năm 1965. Ngày hôm đó hàng đàn máy bay F – 105 D Thunderchief của Mỹ đến oanh kích Hương Khê và cây cầu Lộc Yên trên Đường mòn Hồ Chí Minh. Một chiếc bị lực lượng phòng không Việt Nam bắn rớt, phi công nhảy dù và ngay sau đó được 3 chiếc trực thăng khác bay tới, tìm cách cứu thoát nhưng không được. Một trực thăng HH – 43 Huskie bị trúng đạn, lại thêm mấy người nữa phải nhảy dù thoát nạn.

Sáng hôm sau, khi đang cùng với một đội dân quân tìm kiếm phi công Mỹ tại cánh rừng ở xã Hương Trà thì cô du kích trẻ Nguyễn Thị Kim Lai phát hiện ở một hốc đá có anh lính Mỹ đang ngồi co ro sợ hãi. Cô bắn 3 phát súng chỉ thiên và anh ta giơ tay đầu hàng.

O du kích nhỏ : Nguyễn Thị Kim Lai, 17 tuổi cao 1m48 nặng 37kg. Tù binh Mỹ : William Andrew Robinson, 22 tuổi cao hơn 2m nặng 125kg.

Lúc đó cô Kim Lai mới 17 tuổi, cao 1m48 nặng chỉ 37kg, còn anh lính kỹ thuật trực thăng William Andrew Robinson 22 tuổi, cao hơn 2m, nặng 125kg. Vì cô là người đã phát hiện ra Robinson, và cũng là người trẻ nhất nhỏ nhất trong tiểu đội nên mọi người đã để cô cầm súng giải anh lính Mỹ khổng lồ này về huyện. Nhà báo Phan Thoan, 1924 – 2020, gặp 2 người trên đường đi và đã kịp ghi hình khoảnh khắc hiếm có này.

Khi xem triển lãm năm 1966, nhìn thấy bức ảnh độc đáo này, nhà thơ Tố Hữu đã cảm tác, viết được 4 câu thơ :

O du kích nhỏ, giương cao súng
Thằng Mỹ lênh khênh, bước cuối đầu
Ra thế ! To gan hơn béo bụng
Anh hùng đâu cứ phải mày râu !

Hình “O Lai và Robinson” còn được cho lên tem thư Việt Nam năm 1967 nhân dịp kỷ niệm đã bắn rơi 2.000 máy bay Mỹ trên không phận miền Bắc, và được bay đi khắp thế giới. Ở La Havana – thủ đô của nước Cuba, người dân xứ này đã phóng lớn bức ảnh lên tới kích thước cao 8m x rộng 5m và dựng ở quảng trường trung tâm cho mọi người cùng chiêm ngưỡng.

Robinson nằm ở nhà tù Hỏa Lò 8 năm, được về Mỹ tháng 2 năm 1973 sau hiệp định Paris, tiếp tục cuộc đời binh nghiệp thêm 10 năm. Vợ mất, anh cưới vợ lần thứ nhì và sống cuộc đời bình lặng của một ông đại úy về hưu ở tiểu bang Florida. O Lai sau đó tình nguyện làm y tá ở chiến trường Quảng Trị, năm 1969 bị thương nặng, được chữa lành, được đi học thêm và làm việc trong ngành đông y. O lập gia đình với một anh thương binh, và có được một gia đình êm ấm ở thành phố Hà Tĩnh.

Đó là chuyện ngày xưa, lúc còn là đối thủ nhau chống trả nhau kịch liệt. Câu chuyện chưa chấm dứt vì 30 năm sau đã có một cuộc gặp gỡ kiểu Happy End của phim Hollywood giữa O Lai và Robinson.

Năm 1995, hãng truyền hình Nhật Bản NHK cộng tác với xưởng phim Tài liệu và Khoa học Trung ương làm cuốn phim “Kim Lai – Robinson trong ảnh và Phan Thoan là tác giả” với đạo diễn Lê Mạnh Thích. Cuộc hội ngộ sau 30 năm, trong không khí hòa bình và 2 nước đã là bạn bè, không còn là thù địch nhau nữa. Cả hai người cùng về thăm lại hang đá ẩn núp của Robinson năm xưa, nay đã đầy rêu phong, được cây cỏ lau lách vô tình, bao phủ che lấp những dấu tích của lối xưa chốn cũ.

Hình chụp trước nhà vợ chồng O Kim Lai cùng với vợ chồng Robinson. O Kim Lai tặng cho vợ ông Robinson cái nón lá Việt Nam.

Đối với những bạn nào thích thể loại “du lịch mạo hiểm” nhưng gân cốt còn khỏe và dư một vài ngày, có thể lặn lội đến thác Vũ Môn trên núi Giăng Màn phía tây tỉnh Hà Tĩnh.

Từ Hương Khê có đường đi được khoảng 30km cho xe cơ giới vào đến đồn biên phòng Phú Gia. Sau đó phải đi bộ qua nhiều con suối đến chân núi chân thác ở độ cao 1.035m. Thác nước gần như dựng đứng, muốn lên đỉnh thác phải len lỏi đi vòng và leo qua mấy ngọn núi nên đường dài 15km và chắc chắn không dành cho những người thể lực yếu.

Thác Vũ Môn, sâu trong rừng Trường Sơn bên cạnh biên giới Việt Nam – Lào.

Thác có nguồn từ dãy núi Giăng Màn cao trung bình 1.425m. Đỉnh thác ở độ cao 1.280m với giòng sông rộng gần 30m chảy hiền hòa. Cột nước chảy xuống thác cao hơn 200m và chia thành 4 bậc, mỗi bậc cao vài chục thước. Trên đỉnh thác có cả một vùng rừng nguyên sinh rộng vài trăm ha, khoảng 70ha đất rừng tương đối bằng phẳng. Nhờ nằm ở vị trí xa xôi – cách trở – khó đến nên thác và cả một khu vực lớn vẫn còn hoang sơ – xanh tươi – xinh đẹp.

Phải cần gần cả một ngày để lên đến đỉnh thác Vũ Môn và hạ trại nghỉ qua đêm trong rừng. Thác cách biên giới Việt Nam – Lào chỉ 800m. Xa xa về hướng tây tây bắc chỉ chừng 10km là đỉnh núi cao nhất trong vùng, ngọn Rào Cỏ – 2.235m.

Các bạn nào có dịp đi ngang Hà Tĩnh chắc thế nào cũng được nếm thử vài sản phẩm đặc biệt của xứ này :

Chỉ có ở Hà Tĩnh : Kẹo Cu Đơ.

– Kẹo Cu Đơ. Hai bề mặt là bánh tráng nướng, ở giữa có nhân bằng mật mía, trộn với đậu phụng, đậm mùi vị gừng. Kẹo này được dùng khi uống trà.

Bánh mướt cuốn ram, chỉ thấy ở Hà Tĩnh.

– Bánh mướt cuốn ram. Là cách gọi khác của bánh cuốn, bánh ướt. Đây là món ăn bình dân. Gạo tẻ được ngâm trước đó nhiều giờ, xay thành bột và tráng mỏng bằng tay. Nhân được làm gồm : Thịt, mộc nhĩ, hành được cắt nhỏ trộn với miến, tiêu . . . cuốn lại, rồi chiên cho giòn, thưởng thức với nước mắm ớt tỏi.

Bưởi Phúc Trạch, trái không lớn lắm nhưng rất tròn, ngon ngọt.

– Bưởi Phúc Trạch. Chỉ cho đúng hương vị và kích thước khi được trồng ở vùng này. Trái không to lắm, hình rất tròn, múi bưởi trông đẹp mắt, thơm ngon.

Cam Bùng Hương Khê. Rất dễ lột vỏ, thơm ngon ngọt.

– Cam Bù Hương Sơn. Trái này vào vụ ở thời điểm gần Tết. Lúc chín vỏ có màu đỏ, dễ bóc vỏ, ít hạt, ngọt ngào.

Rời Hương Khê, hành trình tiếp tục đi về phương Bắc, vẫn là Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15.

Km 12 – Ngả 3 Phúc Đồng, nơi Đường Hồ Chí Minh và Quốc lộ 15 tạm thời tách ra làm 2.

Từ ngả 3 này, chúng ta có 2 sự lựa chọn : Quẹo trái đi tiếp trên Đường Hồ Chí Minh hoặc quẹo phải để vào quốc lộ 15.

Từ lâu rồi, nhiều người trong chúng ta có nghe đến Ngả 3 Đồng Lộc nằm trên quốc lộ 15. Đây là con đường đã có từ lâu, nằm giữa quốc lộ 1 phía đông và Đường Hồ Chí Minh phía tây nên nếu đi trên quốc lộ 1 hoặc theo Đường Hồ Chí Minh đều không đến được vì phải đi vòng đến mấy chục cây số. Lần này mình nhất định phải ghé qua địa danh lịch sử này.

Ngay từ ngả 3 Phúc Đồng trên Đường Hồ Chí Minh, ta đã thấy bảng chỉ đường đi Khe Giao – Ngả 3 Đồng Lộc, quẹo hướng đông, vào quốc lộ 15.

Quốc lộ 15 ở khu vực này dẫn chúng ta quanh co xuyên qua rất nhiều làng – thôn – xóm, tiêu biểu cho quê nghèo “đất cày lên sỏi đá” và “trời hành cơn lụt hàng năm”, vượt nhiều con sông uốn lượn như sông Ngàn Sâu – sông Ngàn Phố – sông La trên đất Hà Tĩnh , rồi sông Lam trên địa phận Nghệ An. Hai bên đường phong cảnh đất nước thanh bình, đẹp như tranh vẽ, hầu như làng nào cũng có nhà thờ Thiên Chúa giáo.

Km 30 – Ngả 3 Khe Giao.

Đã nhiều lần đi ngang nhưng lần này mới được quẹo vào Ngả Ba Khe Giao và Ngả Ba Đồng Lộc.

Từ đây quẹo phải, đi về thành phố Hà Tĩnh chỉ còn 16km, và nếu thêm 12km nữa chúng ta đến hồ Kẻ Gỗ phía nam Hà Tĩnh. Lộ trình hôm nay dẫn chúng ta quẹo trái, đi 8km về hướng bắc để đến Ngả 3 Đồng Lộc.

Km 38 – Ngả 3 Đồng Lộc. Xã Đồng Lộc huyện Can Lộc tỉnh Hà Tĩnh.

Khu vực này nằm trên Quốc lộ 15 – Đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa và là một ngả 3 rất quan trọng nên đã trở thành tọa độ để máy bay Mỹ trút bom đạn xuống. Trưa ngày 24 tháng 7 năm 1968, một tiểu đội nữ Thanh Niên Xung Phong được lệnh san lấp những hố bom ở nơi vừa bị oanh kích để nhanh chóng thông đường cho xe qua. Đến 16 giờ 30, lại có thêm một trận bom dội xuống và là trận dội bom thứ 15 trong ngày hôm đó ! Một trái bom rơi trúng đội hình 10 cô gái.

Bom đạn nổ long trời lở đất, các cô đã hy sinh khi đang làm nhiệm vụ, trong tư thế ngồi ôm cái xẻng để xúc đất lấp hố bom. Chiều hôm đó các cô đang nấu cơm, đang kho nồi cá thì được lệnh ra mặt đường để lấp hố bom gấp, cho xe qua. Cái nồi kho cá đó vẫn còn, được trưng bày ở nhà truyền thống. Họ đã ngã xuống khi tuổi đời còn rất trẻ, từ 17 đến 24 tuổi, đa số chưa lập gia đình.

Tượng đài 10 Cô Thanh Niên Xung Phong ở Ngả Ba Đồng Lộc.

Khu Di tích Lịch sử 10 Cô Thanh Niên Xung Phong Ngả Ba Đồng Lộc được xây dựng trên một khuôn viên rộng mênh mông với nhiều hạng mục :

– Khu mộ 10 nữ Anh hùng Liệt sĩ Thanh Niên Xung Phong.
– Tượng đài chiến thắng.
– Cột biểu tượng lưu niệm của ngành giao thông vận tải.
– Nhà bia tưởng niệm Thanh Niên Xung Phong toàn quốc.
– Nhà truyền thống Thanh Niên Xung Phong toàn quốc.
– Phòng trưng bày truyền thống Ngả 3 Đồng Lộc.
– Tháp chuông Đồng Lộc.
– Khu triển lãm những vũ khí được Thanh Niên Xung Phong và bộ đội sử dụng để chiến đấu tại Ngả 3 Đồng Lộc.

Có rất nhiều thơ – văn – nhạc kể về 10 Cô Gái Ngả 3 Đồng Lộc. Năm 1997 đạo diễn Lưu Trọng Ninh quay xong cuốn phim Ngả 3 Đồng Lộc, được chính ông đã tham gia và cho ra mắt khán giả quốc tế cuốn phim bi hùng và cảm động này ở đại hội phim quốc tế Film Festival Berlinale tại thủ đô Berlin năm 2001.

Lần đó lúc xem phim xong, đài ARD của Đức – tương tự như VTV1 của Việt Nam ta, có phỏng vấn mình về cảm tưởng khi xem cuốn phim này. Đó là lần đầu tiên mình xuất hiện trên truyền hình của Đức. Mới đó mà cũng được 20 năm rồi, mau ghê !

Ngả 3 Đồng Lộc cách thị trấn Nghèn – huyện Can Lộc – quốc lộ 1 chỉ 12km nên bạn nào có dịp đi trên đường thiên lý Bắc – Nam có thể ghé viếng thăm địa điểm du lịch tâm linh này dễ dàng.

Tạm biệt Ngả 3 Đồng Lộc, chúng ta tiếp tục cuộc hành trình dọc theo quốc lộ 15, lại quanh co qua rất nhiều làng mạc đã tồn tại từ xa xưa, nơi tận cùng phương Nam của đất Đại Việt chúng ta trước đây vì phía Nam của dãy Hoành Sơn là bắt đầu vào địa phận của vương quốc Champa xưa kia.

Km 65 – thị trấn Đức Thọ bên 3 con sông : Sông Ngàn Phố – sông Ngàn Sâu – sông La.

Đã vừa giữa trưa nên cũng đến lúc “nghỉ lưng” và tìm nơi nào đó sạch sẽ tươm tất để thưởng thức mấy món ăn rất ngon của địa phương này.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây