Bài số 18. Từ thị xã Thái Hòa đến Lam Sơn về thành phố Thanh Hóa

-

Du ký ngược Đường Hồ Chí Minh, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, từ Sài Gòn theo quốc lộ 14 xuyên Cao Nguyên Trung Phần ra đến Khe Sanh – Quảng Trị. Từ Khe Sanh, đi tiếp theo Đường Hồ Chí Minh nhánh Tây trên dãy Trường Sơn sát biên giới Việt Nam – Lào đến Lam Kinh, theo sông Chu về thành phố Thanh Hóa.

Bài số 18. Từ thị xã Thái Hòa đến Lam Sơn, tham quan khu Di tích Lịch sử Lam Kinh, lượn lờ theo sông Chu về thành phố Thanh Hóa.

Trên hành trình “Tiếu Ngạo Giang Hồ” dịp Thu – Đông 2009 – 2010 qua 3 nước Việt Nam – Campuchia – Lào, đi theo chiều kim đồng hồ, đơn thân độc mã – một mình một ngựa sắt Honda Wave Alpha 100cc. Từ Hà Nội về phương Nam mình đã chọn đi theo lộ trình trên Đường Hồ Chí Minh dọc theo phía tây đất nước, đi trên dãy Trường Sơn, sát với biên giới Việt Nam – Lào, và ghé thị xã Thái Hòa lần đầu tiên.

“Phố Hàng Me” ở đầu hẻm có khách sạn Giao Tế, gần cầu Sông Hiếu – Thái Hòa. Hẻm có hai hàng cây me cổ thụ, có thể được bình chọn là “Hẻm đẹp nhất nước Việt Nam”.

Thái Hòa chỉ cách Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 khoảng chừng 7km về phía tây, bên con sông Hiếu êm đềm chảy theo hướng bắc – nam qua thị xã. Từ đây, có quốc lộ 36 đi 37km về hướng đông, gặp quốc lộ 1 và thị xã Hoàng Mai, thêm 8km nữa sẽ ra đến bãi biển Đông Hồi bên Biển Đông.

Quốc lộ 48, từ Quỳnh Lưu đi ngang Thái Hòa, theo sông Hiếu đi đến những miền “Viễn Tây” của Nghệ An như Quỳ Châu, Quế Phong. Những nhánh còn lại của quốc lộ 48 như nhánh 48D đưa chúng ta đi Quỳ Hợp, Châu Phong, Châu Thôn và xa hơn nữa. Nhánh 48C dẫn xuyên 155km, qua những khu vực còn hoang vắng xinh đẹp miền tây Nghệ An và gặp quốc lộ 7 tại Tương Dương gần biên giới Việt Nam – Lào.

Lần đó, giữa tháng 1 năm 2010, Thái Hòa chưa có nhiều khách sạn nhà nghỉ, mình đi loanh quanh mấy lượt phố phường vẫn chưa tìm thấy chỗ trọ nên đi tiếp qua cầu sông Hiếu qua bên phần hữu ngạn thì thấy phía bên trái con đường chính có khách sạn Giao Tế, cái tên nghe hơi lạ, như là dịch từ tiếng Tàu và không biết có phải chỉ dành cho chuyên gia người Tàu ở hay không ?

Vào hỏi thăm thì thấy phòng ốc cũng được, nằm ngay trung tâm, bên cạnh sông Hiếu, lại có cả nhà hàng, cơ sở vật chất và không khí giống như thời bao cấp quốc doanh, cũng là dịp để được . . . “Gợi giấc mơ xưa” !

Điểm tuyệt vời của khách sạn này không phải là đầy đủ tiện nghi – phục vụ chu đáo – giá cả phải chăng mà là vị trí ở ngay đầu một con hẻm dài, và đây là một trong những con hẻm đẹp nhất nước Ta !

Hẻm chắc rộng cỡ 3m – 4m, được bê tông hóa bằng con đường hẹp, chỉ đủ cho 2 xe máy né nhau hoặc một ô tô con đi nhưng đặc biệt là có hai hàng cây Me cổ thụ to và cao vút rất ngoạn mục. Đây như một xã hội được thu nhỏ lại : Cafe đồ uống, quán ăn bình dân, nhà hàng đặc sản, các thứ cửa hàng dịch vụ lẫn với nhà ở dưới bóng mát của hai hàng cây cổ thụ, rất độc đáo, chưa thấy ở đâu trên đất nước mình có được con hẻm nhiều cây to – cao – đẹp như vậy. Và đây cũng là một trong những lý do dẫn mình tới đây. Anh bạn tại địa phương đặt cho hẻm này cái tên rất đẹp và xứng đáng là Phố Hàng Me.

Sau này trong những lần ghé qua và lưu lại nơi đây, mình có phòng ở nhà nghỉ tư nhân nho nhỏ, cũng trong một hẻm yên lặng bên phía đông, tả ngạn và cũng gần cầu sông Hiếu, chỉ đi bộ vài phút băng qua cầu là đã đến hẻm “Phố Hàng Me”.

Thị xã Thái Hòa tương đối lớn với gần 70.000 cư dân và được con sông Hiếu, chảy qua đây theo hướng bắc – nam chia đều phố phường thành 2 khu, tả ngạn – phía đông và hữu ngạn – phía tây sông Hiếu. Ngoài cây cầu sông Hiếu trên con đường phố chính và cũng là quốc lộ 48 đi ngang, cách đây vài năm đã có thêm cây cầu Sông Hiếu 2 bằng bê tông cốt thép to rộng, cách cầu cũ chừng 900m về phía nam – phía hạ nguồn, góp phần lớn giảm mật độ của xe tải nặng chạy qua khu trung tâm.

Ngay đầu cầu Sông Hiếu 2 vẫn còn giữ được cây cổ thụ rất đẹp.

Dưới triều Nguyễn, Thái Hòa là thủ phủ của Phủ Quỳ, một vùng rộng lớn đất đỏ Bazan, tài nguyên thiên nhiên phong phú ở phía tây Nghệ An, nhiều rừng núi hoang vu, kéo dài hơn 200km đến biên giới Việt Nam – Lào. Sản phẩm địa phương gồm chè – cao su – cà phê, trái cây có cam – quít – bưởi – dưa . . .

Gần phố có vài địa điểm tham quan :

Lễ hội đền Làng Vạc.

– Đền Làng Vạc. Ở xã Nghĩa Hòa, cách 6km về phía nam. Địa chỉ nằm gần rừng cây cao su, có những di chỉ cổ xưa, nhiều ngôi mộ và hiện vật cổ cả ngàn năm như : Trống đồng, rìu, vật dụng bằng đá, đồ gốm, tượng v. . . v. . .

– Đồi Hoa Xuân. Ở xã Đông Hiếu, cách trung tâm chừng 8km, rất gần ngả 4 quốc lộ 48 và Đường Hồ Chí Minh. Vườn hoa rộng 4ha, trồng và cho nhiều loài hoa đẹp : Hoa Cánh Bướm đa sắc màu, hoa Thạch Thảo, rất nhiều hoa Cúc Bách Nhật, Cúc Họa Mi, Cúc 7 màu, hoa Túy Điệp, hoa Xác Pháo, có cả con đường hoa Cẩm Tú Cầu. Dịp cuối và đầu năm dương lịch dân vùng này không cần phải đi 700km lên Cao Nguyên Đá Đồng Văn – Hà Giang xa xôi lạnh lẽo, vẫn có thể ngắm nhìn cánh đồng hoa Tam Giác Mạch phơn phớt tím hồng nơi đây.

Đầu những năm 1960, có phong trào Việt Kiều hồi hương về miền Bắc Việt Nam, từ Tân Đảo – Nouvelle Calédonie giữa Thái Bình Dương xa xôi gần nước Úc và nhiều nhất là từ những tỉnh miền Y Xản – đông bắc Thái Lan. Một số gia đình được đưa về lập nghiệp ở những nông trường tại các tỉnh miền Trung, trong đó có vùng miền tây Nghệ An.

Việt Kiều Thái Lan về Việt Nam, đem theo cả nghề trồng trọt cây trái đã học được, có kinh nghiệm tốt từ bên nước bạn, và phổ biến thêm những món ngon vật lạ đã được hấp thụ tại Thái Lan, thí dụ bánh Hoa bình dân giản dị, chỉ có ở Thái Hòa và được bán với giá rẻ, ai cũng có thể cùng thưởng thức.

Bánh Hoa, được Việt Kiều Thái Lan hồi hương đem theo kinh nghiệm ở xứ người về quê Cha đất Tổ, cho thêm hương vị Việt Nam, chỉ có ở Thái Hòa.

Bánh Hoa, đương nhiên có hình như đóa hoa. Nguyên liệu được dùng là bột gạo, trứng gà, đường, nước cốt dừa, lá dứa, mè và về Việt Nam nên được có ý tưởng sáng tạo là cho thêm cốm. Hương vị rất đặc biệt vì có gốc gác xuất xứ từ Thái Lan, giòn giòn – béo béo – thơm thơm hoàn toàn khác với những thứ bánh khác. Người đúc bánh phải vất vả ngồi bên chảo dầu rất nóng.

Bà con ở đây gọi là cháo Canh, ở trong Nam gọi là bánh Canh.

Bạn nào, tối khuya còn muốn có tí gì cho vào bụng, có thể thử món bánh canh, ở vùng này quen gọi là cháo canh. Sợi bánh được làm từ bột gạo, dài dai và mềm thường được ăn với thịt băm hoặc cá lóc rán vàng ngậy và nước dùng đậm đà, thêm vài trứng cút và mấy tốp mỡ nữa là không còn gì thần tiên hơn trong một đêm vắng lặng và se se lạnh.

Nghệ An còn nhiều món ngon, các bạn đi ngang qua tỉnh này đừng quên thưởng thức hoặc nếu ăn không kịp cũng có thể mua để làm quà hoặc đem về nhà dùng dần.

Gỏi làm với Nhút Thanh Chương.

– Nhút Thanh Chương, món ăn dân dã. Khí hậu khắc nghiệt, trước đây đời sống đói khổ nên người dân Ta nơi đây có nhiều sáng tạo trong việc chế biến thực phẩm, tận dụng tối đa nguyên liệu có được. Đất Thanh Chương có mít rất ngon, mít chín thì khi ăn xong dùng dao gọt lấy xơ. Mít non được các bà các chị gọt vỏ gai bên ngoài, rửa cho hết nhựa, cắt thành sợi nhỏ dài cùng với xơ đem phơi nắng cho săn lại, bóp với muối, cho thêm ớt và lá gừng hoặc củ sả, nén vào chum – vại – lọ, rót xâm xấp nước sôi để nguội, như muối dưa cà ngoài miền Bắc xứ Ta hay Kim Chi của Hàn Quốc.

Sau khoảng một tuần lễ, có thể đem ra xé nhỏ ăn kèm lá kinh giới chấm với nước mắm ớt tỏi và được gọi đùa là “Thịt gà xé phay”. Món này, bảo quản cho tốt có thể để dành dùng được cả năm trời, nhất là vào mùa mưa bão lụt lội không tiện đi chợ. Nhút có thể đem ra nấu canh chua với cá hoặc làm gỏi – xà lát.

Tương Nam Đàn, làm từ nếp, bắp hoặc đậu nành, được trồng và phát triển rất tốt ở những bãi bồi ven sông Lam.

– Tương Nam Đàn. Ở Nghệ An có câu “Nhút Thanh Chương, tương Nam Đàn”. Nguyên liệu được sử dụng là nước, thính gạo, muối không i ốt, gạo nếp, đậu nành hoặc bắp được trồng ở những bãi bồi ven sông Lam. Cách chế biến rất công phu tinh vi và qua nhiều công đoạn, sau 50 ngày có thể dùng được và để dành ăn đến cả năm trời. Trong Nam có mắm cái – mắm nêm – mắm ruốc, ngoài Bắc có tương Bần – tương Cự Đà, thì Nghệ An có tương Nam Đàn làm cho những người con xứ Việt xa nhà gửi nổi lòng qua mấy câu ca dao :

Anh đi anh nhớ quê nhà,
Nhớ canh rau muống, nhớ cà dầm tương.
Nhớ ai giãi nắng dầm sương,
Nhớ ai tát nước bên đường hôm nao.

Lúc nghèo khó, ăn cơm với nước tương để tồn tại. Lúc khấm khá hơn một tí, có rau lang hay rau muống luộc chấm với nước tương, có món cá kho tương “đậm đà bản sắc dân tộc”.

Đặc sản của cảng Cửa Lò – Nghệ An : Cá Thu nướng, mang về làm quà.

– Cá Thu Cửa Lò. Sản phẩm đặc biệt của vùng cảng biển Cửa Lò. Chỉ chọn những con cá Thu còn tươi, mắt trắng thịt trắng và nặng ít nhứt 3kg, đem sơ chế và nướng. Có một làng ở Cửa Lò chuyên nướng loại cá biển này, được du khách rất ưa chuộng và mua về làm quà.

Nhớ thưởng thức món cháo Lươn khi có dịp đi ngang Nghệ An.

– Cháo Lươn. Món này được chuẩn bị công phu lắm. Lươn được chọn phải là con lươn sống ngoài đồng, lưng đen bụng vàng, loại này thịt chắc – dai – ngon hơn lươn nuôi. Sơ chế bằng muối – chanh – gừng để khử mùi tanh, rồi lươn được xào với hành tím, nước cốt nghệ, hành lá. Gạo nếp, gạo tẻ được rang vàng để khi nấu sẽ cho nồi cháo thơm. Lúc múc cháo ra tô, cho lươn xào lên trên rồi rưới thêm tí nước xốt, rắc thêm rau răm xắc nhỏ, ngò, hành phi, tiêu ớt. Thịt lươn giàu chất đạm nên không nằm trong thực đơn của những người có bệnh Gout – thống phong.

Cam Xã Đoài, vỏ mỏng – thơm ngon.

– Cam Xã Đoài. Đây thực sự là sản phẩm đặc biệt chỉ có ở làng Xã Đoài – huyện Nghi Lộc – Nghệ An, cách trung tâm thành phố Vinh 17km về hướng bắc, gần quốc lộ 1. Giống cam này theo chân một giáo sĩ người Pháp đến truyền đạo nơi này trước đây 150 năm, “đất lành cây trụ”, gặp thổ nhưỡng khí hậu thích hợp giống cam này sinh sôi nẩy nở, phát triển tốt trên đất này, cho một loại trái cam đặc biệt đẹp – thơm – ngon – ngọt và được có tên là cam Xã Đoài.

Cam thơm từ vỏ đến ruột, vỏ mỏng thơm dịu, ruột vàng óng ánh, vị ngọt thanh không chua, khi xưa thường dùng để dâng, để “tiến vua”. Hiện nay cam này được ưa chuộng đến mức không bán theo Kg mà bán từng trái, mỗi trái chỉ nặng chừng 180gr – 200gr mà được bán với giá 70.000 đồng / 1 trái, có năm gần Tết khan hiếm, giá lên tới 100.000 đồng / 1 trái cũng không có để mua, trong khi giá các loại cam khác là 40.000 đồng / 1kg.

Trong giấc mơ cũng không dám nghĩ là có nơi nào trên thế giới loài người, bán cam mà lại tính tiền từng trái như vậy, chuyện khó tin nhưng có thật, và rất đúng theo tâm lý của dân Ta : Càng đắt tiền, càng mắc mỏ thì càng được mọi người tranh nhau lao vào giành giựt ! Mùa Thu, cam còn non xanh đã có người tới đặt cọc. Cam chín vào dịp trước và sau Tết âm lịch, khách và thương lái đến ngay vườn giao tiền và tự tay thu hoạch. Nghĩ cũng vui lây với bà con ở Xã Đoài, có được vùng đất tốt và được “Chúa” ban cho giống cam độc đáo, vừa có danh vừa có giá.

Đã có thử nghiệm đem giống cam Xã Đoài trồng ở vùng lân cận hoặc những nơi khác. Cây phát triển tốt, vẫn xanh vẫn đẹp, trái cũng đẹp nhưng hương vị không thơm không ngọt mọng như được trồng trên đất Xã Đoài. Diện tích của cam Xã Đoài giới hạn trong vài cây số vuông. Chỉ còn 40 gia đình trồng được 10.000 gốc trên tổng diện tích khiêm nhường là 17ha và với sự đô thị hóa thô bạo như hiện nay, nguy cơ cam Xã Đoài sẽ không còn đất sống và bị tuyệt chủng là chuyện có thật đang xảy ra.

Ai có dịp đi ngang làng Xã Đoài – xã Nghi Diên huyện Nghi Lộc ở phía bắc thành phố Vinh, xin đừng quên thưởng thức loại cam “tiến vua” này trước khi nó bị biến mất vì “không còn đất sống”, chỉ còn trong câu chuyện được kể lại hoặc trong sách vở tài liệu.

Du khách còn thời giờ, có thể dành vài ngày để rong ruổi khám phá miền “Viễn Tây Nghệ An” với những Vườn Quốc gia, những Khu Bảo tồn Thiên nhiên có nhiều sông suối – ao hồ – hang động thiên nhiên hoang dã đẹp ngây ngất.

Rời thị xã Thái Hòa, chúng ta tiếp tục hành trình trên đường Thiên Lý – Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15, đi về phương Bắc.

Km 15 – Cánh đồng hoa Hướng Dương.

Nơi đây có trang trại nuôi 45.000 con bò của công ty chế biến sữa TH Truemart. 100ha đất trồng cây hoa Hướng Dương để cung ứng nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng cho bò sữa. Thấy cánh đồng hoa được du khách ưa chuộng quá nên nông trường đã rút kinh nghiệm từ những vụ thu hoạch trước đây, chia làm nhiều đợt trồng cây để có thể kéo dài mùa hoa nở khoe sắc cho khách bốn phương đến thưởng lãm.

100ha cánh đồng hoa Hướng Dương của công ty TH truemart, Nghĩa Đàn – Nghệ An.

Mỗi năm có 2 vụ thu hoạch hoa Hướng Dương, tháng 4 – 5 và tháng 12 – 1 dương lịch. Toàn bộ thân – hoa – lá – cành – hạt của cây hoa Hướng Dương được nghiền nhỏ, trộn với nhiều loại nguyên liệu khác nhau với tỉ lệ thích hợp, được ủ chua tạo vi sinh để thành các loại thức ăn rất khoái khẩu và tốt cho bò sữa. Cây hoa Hướng Dương dễ trồng, dễ thích ứng, dễ phát triển bất kể mùa nắng mùa mưa hay mùa lạnh, cây không bị sâu bệnh và hầu như không cần đến thuốc trừ sâu.

Mùa hoa Hướng Dương mang lại nguồn thu nhập tốt cho bà con nơi đây nhờ các dịch vụ phát sinh như : Du lịch lữ hành, nhà hàng ăn uống, khách sạn nhà nghỉ, chụp ảnh kỷ niệm v. . . v. . . Hàng năm, tỉnh Nghệ An kết hợp với công ty TH Truemart tổ chức vào cuối tháng 12 dương lịch Lễ hội hoa Hướng Dương để quảng bá du lịch và sản phẩm của địa phương, rất thành công.

Rời Cánh đồng hoa Hướng Dương ở Nghĩa Đàn, chỉ sau vài cây số, chúng ta đi vào địa phận tỉnh Thanh Hóa.

Km 45 – Ngả 3 Thác Cổng Trời.

Ở Bản Chuối – xã Xuân Quỳ, cách Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15 chỉ 3km, nằm phía tây trục đường chính, có lối vào đến gần thác nước, rất thuận tiện để ghé tham quan. Ngay gần thác có khu du lịch, phục vụ đầy đủ các dịch vụ ăn uống.

Thác Cổng Trời, nhìn từ xa.

Từ đỉnh núi Pù Mùn cao hơn một ngàn thước, những khe nước, suối nước chảy xuống thành 3 giòng. Một giòng qua xã Hóa Quỳ thành thác Đồng Quan, giòng còn lại chảy về xã Thanh Lâm thành thác Thanh Lâm. Giòng nước to nhất rộng nhất chảy qua Bản Chuối là thác Cổng Trời. Từ dưới cuối con suối đi ngược lên sẽ thấy thác chia thành 3 tầng. Thác Mẹ, thác Tiên và sau 400m, trên cao nhất là thác Cổng Trời với màn nước trải rộng và cao hơn 30m.

Khu rừng chung quanh thác là thảm thực vật phong phú, có thể thấy còn những cây gỗ quí như Pơ Mu – Sa Mu – Lim Xanh, hoa dại mọc khắp nơi và nhiều thứ rau rừng rất ngon.

Km 55 – Yên Cát. Thị trấn của huyện Như Xuân.

Từ đây có ngả 3 lớn, quẹo phải vào quốc lộ 45 đi về hướng đông 20km đến Bến Sung – Vườn Quốc gia Bến En, thêm 10km đến Nông Cống và sau 30km nữa sẽ về đến thành phố Thanh Hóa.

Thuyền du lịch lênh đênh trên mặt hồ Sông Mực – Vườn Quốc Gia Bến En.

Ghé tham quan Vuờn Quốc Gia Bến En là việc rất nên làm, và ai được lưu lại ít nhất một đêm thì càng hay. Vườn Quốc gia Bến En trải rộng qua 2 huyện Như Xuân và Như Thanh, diện tích 14.735ha trong đó có 8.544ha rừng nguyên sinh với nhiều cây gỗ quí như Chò Chỉ, Bù Hương, Sến Mật, Vàng Tâm, có những cây Lim Xanh nhiều trăm tuổi với đường kính hơn 3m.

Rừng ở đây có hệ động vật và thảm thực vật vô cùng phong phú, rất nhiều loại cây thảo dược được tìm thấy như Hà Thủ Ô – Thổ Phục Linh – Hoài Sơn – Ba Kích. Động vật quí hiếm nơi đây nằm trong sách đỏ, được bảo hộ rất kỹ, có thể kể vài loài : Voi, Bò tót, Gấu ngựa, Báo lửa, Khỉ mặt đỏ, Vượn má trắng, Rùa vàng . . .

Bốn con suối và một con sông tạo thành hồ Sông Mực, rộng gần 4.000ha, sâu trung bình 30m, nằm giữa Vườn Quốc gia Bến En với 21 đảo và những hang động đá vôi có thạch nhũ rất đẹp. Ban quản lý Bến En có tổ chức những chuyến du ngoạn bằng thuyền trên sông Mực, tham quan hang động trên các đảo nằm rải rác trên mặt hồ, ghé thăm Bản Vơn của bà con người Thái, thưởng thức những món ăn độc đáo của dân cư nơi đây.

Gần Vườn Quốc Gia Bến En, các cháu còn nhỏ mà đã phải làm việc để kiếm thêm thu nhập phụ giúp cho gia đình, thấy thương quá !

Ngay thị trấn Bến Sung của huyện Như Thanh, hồi kháng chiến chống Pháp thuộc địa phận huyện Như Xuân, cách chợ trung tâm 3km là Khu di tích lịch sử Lò Cao Hải Vân, gần bên cạnh văn phòng Vườn Quốc Gia Bến En.

Để tránh bị giặc Pháp càn quét, cuối năm 1949 cục quân giới di chuyển công binh xưởng từ Nghệ An về vùng thung lũng Đồng Mười, gần con sông Mực hiền hòa thơ mộng ở Như Xuân – Thanh Hóa để được kín đáo an toàn hơn. Kỹ sư luyện kim Võ Quí Huân, Việt kiều từ Pháp về Việt Nam cùng với Bác Hồ trên chiến hạm hải quân Pháp Dumont D’ Urville tháng 10 năm 1946, nhận lệnh chủ trì công trình xây dựng lò cao để sản xuất gang cho công binh xưởng chế tạo ra lựu đạn – mìn – súng cối – Bazooka – chảo – nồi quân dụng v. . . v. . .

Vẫn bị máy bay Pháp thường xuyên dội bom bắn phá nên cuối cùng một lò cao được lắp đặt hoàn chỉnh trong lòng hang động núi Đồng Mười. Đây là chuyện chưa hề có tiền lệ trên thế giới vì việc thiết kế được một lò cao to lớn cồng kềnh trong hang đá là vô cùng khó khăn về kỹ thuật với hệ thống xả hơi nước – xã hơi độc – thoát khói, cực kì phức tạp.

Lò cao NX3 – viết tắc của Như Xuân 3, vì trước đó đã có lò cao NX1 và NX2, với dung tích hơn 8 mét khối, cao 13m không lâu sau đó cũng được hoàn thành, hoạt động tốt và cung cấp mỗi ngày được 3 tấn gang để công binh xưởng sản xuất vũ khí cho các chiến trường. Cũng vừa lúc quân và dân Quảng Nam – Đà Nẵng làm nên chiến thắng lớn trên đèo Hải Vân nên lò cao NX3 được mang tên là “Lò cao Hải Vân”.

Lò cao Hải Vân, chuyên sản xuất gang, trong hang đá Đồng Mười, bây giờ thuộc huyện Như Thanh – Thanh Hóa.

Ban Giám đốc Lò cao Hải Vân là tập hợp những trí thức – kỹ sư – chuyên viên giỏi thời bấy giờ như các ông Trần Tam Tỉnh, Trần Vân Yên, Đặng Trần Cảnh, Lương Ngọc Khuê, Tống Nguyên Lễ, Mai Trung Tâm. Lò cao tiếp tục sản xuất đều đặn những mẻ gang cho công binh xưởng đến tháng 12 năm 1954, và đã được công nhận là Di tích Lịch sử Quốc gia.

Lộ trình của chúng ta vẫn là Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15, đi tiếp về phương Bắc.

Km 98 – Cầu Lam Kinh. Thị trấn Lam Sơn huyện Thọ Xuân.

Qua khỏi cầu này, có đường bên phải đi về hướng đông, theo sông Chu chừng 1km, chúng ta đến Khu di tích lịch sử Lam Kinh.

Cổng chào, đường vào Khu di tích lịch sử Lam Kinh – thị trấn Lam Sơn.

Đất này là nơi nghĩa quân Lam Sơn dựng cờ khởi nghĩa 10 năm kháng chiến chống quân Minh, 1418 – 1427. Lê Lợi lên ngôi hoàng đế năm 1428 là Lê Thái Tổ, lập nên vương triều Hậu Lê, đóng đô ở Thăng Long, mở một thời kỳ mới cho quốc gia Đại Việt, kéo dài gần 360 năm.

Từ năm 1430, Lê Thái Tổ cho xây dựng cả một quần thể lăng – mộ – đền – miếu và một hành cung cho các vua nhà Lê mỗi lần về đây bái yết tổ tiên, được coi như kinh đô thứ nhì sau kinh thành Thăng Long và đặt tên là Lam Kinh.

Lam Kinh nằm trong khuôn viên rộng 30ha, được xây theo tiêu chuẩn vàng của thuật phong thủy là “tọa sơn hướng thủy”. Phía bắc dựa vào núi Dầu, phía nam nhìn ra sông Chu, có bình phong trước mặt là núi Chúa, phía đông có rừng Phú Lâm và phía tây là núi Hương.

Chúng ta rời Đường Hồ Chí Minh – Quốc lộ 15, rời Khu di tích lịch sử Lam Kinh, qua cầu Mục Sơn, vào Đường tỉnh 506 đi về hướng Thọ Xuân.

Km 114 – Thị trấn Thọ Xuân.

Từ đây mình không đi theo đường tỉnh mà thử tìm cách đi trên con đường đê ven theo sông Chu. Đường đê hữu ngạn – bờ phía nam sông Chu, đang được xây dựng, không rộng, xe máy đi thoải mái nhưng có đoạn đi được, có đoạn lại chỉ là đường đất, có đoạn đang là công trường xây dựng nên toàn là hầm hố hoặc là đang được rải đá chờ đúc bê tông nên đường rất xấu, đi vất vả lắm.

Đường đê hữu ngạn sông Chu còn đang làm dở dang nên rất nhiều đoạn còn là đường đất, xe ô tô đi qua là bụi mù trời.

Phong cảnh hai bên đường đê uốn lượn rất đẹp. Phía nam con đường đê là những làng mạc – thôn xóm yên bình, phía bắc từ đường đê ra tới bờ sông là những bãi bồi với những lũy tre xanh, vườn cây keo lai hoặc được bà con tranh thủ trồng hoa màu, rau – củ – quả trông thấy xanh tươi mát mắt. Những chỗ đất ven sông nhưng cao ráo, ít có khả năng bị ngập lụt, thường được dùng làm những nghĩa trang gia đình, một ngôi mộ to và những mộ nho nhỏ vây quanh. Lúc còn sống hay lúc xuống âm phủ, lúc nào Ta cũng là gia trưởng !

Vẫn là đường đê hữu ngạn sông Chu và những địa điểm từng bị vỡ đê. Nơi đây bị thảm cảnh vỡ đê năm 1925.

Thỉnh thoảng có một tấm bia đá trên đê ghi lại địa điểm, độ tàn phá và thời khắc đã từng xảy ra những trận lũ lụt khủng khiếp do con sông Chu này gây ra.

Km 134 – Cầu Thiệu Hóa. Thị trấn Vạn Hà.

Có cây cầu Thiệu Hóa bắc qua sông Chu. Thị trấn Vạn Hà nằm bên tả ngạn, bờ phía bắc con sông. Từ đây không còn con đường đê chính qui nữa mà chỉ đi được từng đoạn ngắn ven sông, chen lẫn với nhà cửa lấn ra gần sông nên đi cứ thường bị lọt vào ngõ cụt.

Km 143 – Xã Thiệu Khánh huyện Thiệu Hóa.

Sông Chu chảy qua tỉnh Thanh Hóa theo chiều tây – đông, đến xã Thiệu Khánh gần cầu Hàm Rồng, nhập vào sông Mã. Sông Mã dài 512km, là con sông lớn nhất tỉnh Thanh Hóa, đẹp và hùng vĩ, phát nguyên từ Tây Bắc xa xôi, từ Điện Biên Phủ xuyên qua vùng vô cùng hoang vắng trên đất Thượng Lào với độ dài khoảng 100km, rồi lại về Việt Nam ở cửa khẩu Tén Tằn – huyện Mường Lát. Sông Mã tiếp tục chảy xuyên cả tỉnh Thanh Hóa theo chiều tây bắc – đông nam, nhận thêm một phụ lưu lớn là sông Chu tại xã Thiệu Khánh rồi cùng nhau chảy 7km, qua cầu Hàm Rồng, lững lờ thêm 20km, ra đến Biển Đông ở Cửa Hới – Sầm Sơn.

Km 153 – Thành phố Thanh Hóa.

Từ thị xã Thái Hòa đến thành phố Thanh Hóa, nếu đi bình thường chỉ gần 100km nhưng chúng ta đi chơi, chọn đường vòng nên đi tới 153km, cộng thêm đã rẽ ngang ghé tham quan vài nơi, lang thang uốn lượn ngoằn ngoèo theo sông Chu, cộng với những lần chui vào ngõ cụt phải quay ngược ra đường cũ, chắc đã qua gần 200km nên đến Thanh Hóa thì trời đã bắt đầu ngã về chiều.

Con đường làng từ huyện Thiệu Hóa dẫn vào địa phận thành phố Thanh Hóa, đích đến của lộ trình hôm nay.

Đã vài lần có dịp ghé Thanh Hóa nên không cần phải chạy xe lòng vòng để ngắm nhìn phố phường, tìm kiếm khách sạn nhà nghỉ. Mình có phòng trọ tương đối tươm tất – yên lặng – sạch sẽ, giá cả dễ chịu và địa điểm không thể nào tốt hơn, chỉ cách quảng trường trung tâm có tượng đài Ông Lê Lợi chưa tới 200m.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo

BÌNH LUẬN

Vui lòng nhập bình luận của bạn
Vui lòng nhập tên của bạn ở đây