Du ký ngược Đường Hồ Chí Minh, từ Sài Gòn ra Hà Nội. Đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, từ Sài Gòn theo quốc lộ 14 xuyên Cao Nguyên Trung Phần ra đến Khe Sanh – Quảng Trị. Từ Khe Sanh, đi tiếp theo Đường Hồ Chí Minh nhánh Tây trên dãy Trường Sơn sát biên giới Việt Nam – Lào đến Lam Kinh, theo sông Chu về thành phố Thanh Hóa.
 
Bài số 19. Thanh Hóa.
 
Thủ phủ của tỉnh cùng tên, cách Hà Nội 155km về phía nam, nằm bên giòng sông Mã với 620.000 cư dân, tỉnh đầu tiên của “khúc ruột miền Trung”, trải dài hàng ngàn cây số từ Thanh Hóa đến Bình Thuận. Quốc lộ 1 và đường xe lửa Bắc – Nam đi ngang qua đây, cộng thêm những quốc lộ và tỉnh lộ dẫn về hướng tây, tạo nên một nút giao thông quan trọng cho một vùng rộng lớn, từ Biển Đông lên đến biên giới Việt Nam – Lào xa xôi ở phía tây.
 
Đại lộ Lê Lợi – thành phố Thanh Hóa.
Tên tỉnh là Thanh Hoa nhưng vì kiêng – kỵ – húy nên phải đọc chệch đi. Vua Gia Long, 1762 – 1820, có cô dâu tên Hồ Thị Hoa, vợ đầu của hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm – vua Minh Mạng sau này, 1791 – 1840. Bà Hoa sinh được hoàng tử trưởng là Nguyễn Phúc Miên Tông – vua Thiệu Trị, 1807 – 1847, và qua đời sau khi sinh con được 13 ngày, chỉ hưởng dương 17 năm.
Minh Mạng thương nhớ người vợ hiền thục đoan trang nên lúc lên ngôi vua, ông ban lệ kiêng – kỵ – húy, không được dùng chữ Hoa. Thế là dẫn đến chuyện đổi tên hàng loạt danh từ, địa danh ở nước ta. Tỉnh Thanh Hoa thành Thanh Hóa, làng Yên Hoa ở Hà Nội thành Yên Phụ, chợ Đông Hoa ở kinh thành Huế bên sông Hương gọi là chợ Đông Ba, cây cầu Hoa ở quận 1 Sài Gòn đổi thành cầu Bông. Ở trong miền Nam đi ra chợ không nói là mua bó hoa mà là bó bông. Nhân vật Phàn Lê Hoa trong tuồng hát Bội được gọi là Phàn Lê Huê.
 
Và vì vua Thiệu Trị có tên là Nguyễn Phúc Miên Tông nên chữ Tông cũng bị kiêng – kỵ – húy. Ở miền Bắc có những tên đường như Tông Đản, Lê Thánh Tông nhưng từ Huế trở vào miền Nam, vì ảnh hưởng nặng của triều Nguyễn nên không dùng chữ Tông mà đọc trại đi thành đường Tôn Đản hoặc đường Lê Thánh Tôn, Phụ chính đại thần Tôn Thất Thuyết, giáo sư Tôn Thất Tùng, trung tướng Tôn Thất Đính v. . . v. . .
 
Về khí hậu, Thanh Hóa vẫn giống như ở miền Bắc, mùa hè nóng – ẩm – mưa và cũng rất lạnh vào mùa đông. Đặc biệt, giọng nói không còn “trọ trẹ” như từ Nghệ An vào đến Huế mà khác hẳn, cũng không phải là giọng Bắc hoàn toàn, trong âm điệu.
Đây là nơi đã sinh sản nhiều nhân vật lịch sử : Từ xa xưa có Bà Triệu Thị Trinh, 226 – 248, đánh giặc Đông Ngô – một trong ba nước thời Tam Quốc. Đầu thế kỷ thứ 10 có Hào trưởng Dương Đình Nghệ, 874 – 937, dẹp quân Nam Hán, giành được quyền tự chủ cho đất nước được 6 năm. Rồi Thập đạo tướng quân Lê Hoàn, 941 – 1005, với nhà Tiền Lê. Đến đầu thế kỷ 15 có nhân vật Hồ Quý Ly, 1336 – 1407, với một vương triều ngắn ngủi chỉ mấy năm.
 
Lê Lợi – Lê Thái Tổ, 1385 – 1433, lãnh tụ 10 năm kháng chiến đánh và đuổi được quân Minh, dựng lên vương triều họ Lê dài gần 360 năm, và Trịnh Kiểm, 1503 – 1570, đã làm nên một thứ “Quốc gia Hành chánh” quái đản là chế độ “Vua Lê – Chúa Trịnh”. Mang danh nghĩa là vua mà những ông vua triều Hậu Lê chỉ là bù nhìn, không có một tí quyền hành gì trong tay. Chúa Trịnh quyền hành trên cả vua, muốn lập muốn phế ai cũng được, thậm chí không thích vua nào thì cũng có thể giết đi cho rảnh mắt !
 
Nhiều chúa Trịnh đã có ý muốn lật đổ triều Lê để dựng lên triều Trịnh nhưng không dám làm vì nhiều lý do : Sợ dư luận xã hội vẫn ghi nhớ công lao to lớn của Lê Lợi đã cùng quân và dân giành được độc lập tự chủ cho đất nước, sợ lòng dân phản đối kẻ phản nghịch coi thường đạo vua – tôi, sợ mệnh trời.
 
Trong dân gian có câu : “Lê tồn – Trịnh tại, Lê bại Trịnh vong”, vua Lê còn thì chúa Trịnh ung dung cầm quyền, triều Lê sụp đổ thì phủ chúa Trịnh cũng có nguy cơ tan theo. Vì thế bộ máy để điều hành quản lí đất nước rất cồng kềnh – hình thức – yếu kém – phung phí, và cứ tồn tại đến mấy trăm năm làm đất nước càng ngày càng đi xuống.
 
Đất này cũng là nơi phát tích của vương triều Nguyễn. Đoan Quận Công Nguyễn Hoàng, 1525 – 1613, biết là không thể sống được dưới trướng của ông anh rể là Trịnh Kiểm, vì trước đó anh ruột của Nguyễn Hoàng là Nguyễn Uông đã bị Trịnh Kiểm giết để ngăn ngừa cạnh tranh tiếm quyền.
 
Nguyễn Hoàng cho sứ giả đến vấn kế nơi trạng trình Nguyễn Bỉnh Khiêm và được khuyên : “Hoành Sơn nhất đái, vạn đại dung thân” – Cứ vào phía Nam của dãy núi Hoành Sơn là có thể sống được muôn đời. Vậy là ông xin vào Nam lập nghiệp, lúc đó coi như bị đi đày nên được Trịnh Kiểm đồng ý. Nguyễn Hoàng đem dân, di cư vào Nam với danh nghĩa là đi giữ gìn vùng đất mới nhưng rất thành công và cát cứ hẵng một phương trời.
 
Từ đó đất nước Ta, song song với việc triều đình Vua Lê – Chúa Trịnh “hữu danh vô thực” lại có thêm chuyện “Trịnh – Nguyễn phân tranh” làm rối bời, trở nên yếu hẵng đi và có nguy cơ bị giặc phương Bắc xâm chiếm cho đến lúc người Anh hùng dân tộc Quang Trung – Nguyễn Huệ xuất hiện, dẹp bỏ chế độ “vua Lê – chúa Trịnh” tồn tại hơn 200 trăm năm và đánh tan tành giặc Thanh, thực sự là “đại thắng mùa Xuân” – Tết kỷ dậu 1789.
 
Xin được quay trở lại Thanh Hóa của ngày nay. Du lịch tương đối phát triển rất mạnh. Ngay thành phố cũng có vài địa điểm tham quan rất hấp dẫn :
 
Đền Nhà Lê. Nằm phía nam, cách tượng đài Lê Lợi chừng 3km, bên cạnh quốc lộ 1, cũng là đường Quang Trung, cách phía bắc cầu Bố chừng 100m, quẹo về phía đông là gặp đền. Đây là nơi thờ 27 Hoàng đế và các Hoàng thái hậu triều Hậu Lê, gọi là Thái Miếu. Gồm tiền điện và hậu điện, kiến trúc theo lối trùng thềm liền nhau. Khai quốc công thần Lê Lai và Nguyễn Trãi cũng được thờ nơi đây.
 
Đền vua Lê – Thái Miếu, thờ các vua và những Thái hậu thời Hậu Lê, ở thành phố Thanh Hóa.
Trong đền còn giữ được nhiều hiện vật quí hiếm như con nghê, cột lim, những bức hoành phi, đặc biệt có 6 tượng rất đẹp, tạc ông vua “sánh ngoại” – Hoàng đế Lê Thần Tông với 2 bà vợ Việt và 3 bà vợ ngoại quốc. Một Bà người Hà Lan, hai Bà người Chăm, một Bà dân tộc Mường, một Bà gốc Kinh Bắc.
 
Cầu Hàm Rồng qua sông Mã. Cách trung tâm 5km về phía bắc, được Pháp xây xong năm 1904, vòm thép không có trụ ở giữa. Thi hành “Tiêu thổ kháng chiến”, ngăn bước tiến của giặc Pháp nên chính Ta đã phá sập cầu này cuối năm 1946, và khánh thành cầu mới vào tháng 5 năm 1964, gồm 2 nhịp dầm thép, ở giữa có đường xe lửa, hai bên là đường cho ô tô và lối đi bộ.
 
Toàn cảnh từ trên núi Hàm Rồng. Trước mặt là cầu Hàm Rồng, đầu cầu phía bắc là núi Ngọc, cây cầu bên phải phía hạ nguồn là cầu Hoàng Long.
 
Với vị trí vô cùng quan trọng trong giao thông bắc – nam nên cầu này đã là mục tiêu của hàng ngàn lượt bị máy bay Mỹ dội bom, nhất định phải phá hủy để ngăn chận đường tiếp viện từ hậu phương miền Bắc vào chiến trường miền Nam nhưng không phá sập được.
 
Địa thế đặc biệt, với hai ngọn núi ở hai đầu cầu : Đầu phía bắc là núi Ngọc, phía nam là núi Hàm Rồng, đã chặn được những trận mưa bom đạn dội xuống cầu này trong nhiều năm. Lưới phòng không được bố trí với nhiều lớp : Từ trên hai đỉnh núi, ở hai đầu cầu, dưới mặt đất, trên cầu và cả ở dưới nước đã giữ vững được cầu Hàm Rồng, bắn rớt vô số máy bay và bắt sống hàng loạt phi công Mỹ.
 
Ngày 4 tháng 4 năm 1965, hàng trăm máy bay Mỹ trong thời kỳ chiến dịch Sấm Rền – Operation Rolling Thunder, nhất định dội bom để đưa miền Bắc Việt Nam trở về “thời đại đồ đá”. Cầu Hàm Rồng vẫn là miếng mồi ngon nhưng nuốt hoài không trôi, bị ném xuống vô số bom đạn mà không bị sập.
 
Nữ dân quân trẻ Ngô Thị Tuyển, 19 tuổi quê ở gần cầu Hàm Rồng, dáng người nhỏ nhắn trọng lượng bản thân chỉ vừa hơn bốn mươi hai kg, đang tải đạn tiếp tế cho mấy ụ súng cao xạ.
 
Thường thì chị chỉ vác một thùng đạn, kích thước 92cm x 36cm x 18cm nặng 49kg nhưng lúc đó bom đạn khói lửa ngút trời, mấy ụ súng phòng không sắp hết đạn mà người đồng đội dùng cây xà ben để tách cái đai sắt quàng chặc quanh 2 thùng đạn, lúng túng tách mãi không được nên chị nói cứ chồng 2 thùng đạn lên vai để chị vác thử vì gấp lắm rồi.
 
Thế rồi chị chạy phăng phăng băng qua lửa khói, đem đạn đến cho mấy ụ cao xạ, kịp có đạn để bắn máy bay. Sau trận đánh, mấy anh bộ đội cho chị biết 2 thùng đạn cân nặng 98kg, mọi người mới ngớ ra và báo cáo lên cấp trên. Báo chí Việt Nam được một dịp tha hồ “tuyên truyền” cho cả nước, cả thế giới được biết hành động độc đáo này.
 
Bản thân mình trước đây có tập tạ luyện cơ bắp, lúc còn trẻ cân nặng 60kg mà cũng chỉ gánh và đứng lên ngồi xuống được 80kg và hơn một chút thôi. Thế mà một người con gái Việt Nam – nữ dân quân 19 tuổi, trọng lượng cơ thể chỉ 42kg mà có thể vác được 98kg chạy phăng phăng trong khói lửa, tiếp đạn cho đồng đội, thật khó tin được.
 
Đương nhiên gánh trên vai và đứng lên ngồi xuống là bài tập nặng hơn là vác trên vai và chạy, nhưng khả năng như của chị Ngô Thị Tuyển thực sự là ngoài sức tưởng tượng, xin bái phục !
 
Và báo chí quốc tế, trong đó có cả báo chí Liên Xô “anh em Xã hội Chủ nghĩa” vào cuộc, xin được chứng kiến tận mắt sự việc này. Tuy là người thật việc thật nhưng chị lo lắm, vì lúc bom đạn ngút trời, máu anh hùng nổi lên thì làm được, bây giờ mà không được thì chẳng những mang tiếng khoác lác mà còn nhục quốc thể nữa. Nhưng lúc vác cho các phóng viên coi, chị còn “phá kỷ lục” được 2kg. Chị nói là vì “thể diện quốc gia” !
 
Đến giữa mùa hè năm 1972, máy bay Mỹ sử dụng kỹ thuật hiện đại, thả bom có tia Laser dẫn đường đã làm sập cầu này nhưng ngay trong năm 1973, sau hiệp định Paris cầu đã được sửa chữa khôi phục lại. Cầu trở thành di tích lịch sử quí giá, được nhiều khách ghé tham quan, cùng với những danh lam thắng cảnh trên núi Hàm Rồng.
 
Cách cầu Hàm Rồng lịch sử 400m về phía hạ nguồn, từ lâu đã có cây cầu Hoàng Long trên quốc lộ 1 cũ, và bây giờ còn có thêm cây cầu Nguyệt Viên to rộng cách cầu Hoàng Long 4km về phía hạ nguồn, trên quốc lộ 1 – Đường tránh – City Belt.
 
Thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng. Tọa lạc ở vị trí đắc địa, trong khuôn viên rộng 40.000m2, trên một ngọn đồi của núi Hàm Rồng, nhìn xuống sông Mã và cầu Hàm Rồng. Được thiết kế do kiến trúc sư Hoàng Đạo Kính, thiền viện gồm nhiều hạng mục, tổng cộng lên đến 9.000m2. Đây là nơi phật tử đến tu học, tổ chức lễ Hằng thuận cho các đôi tân hôn, các buổi giảng Pháp cho mọi tầng lớp, các khóa tu thiền v. . . v. . .
 
Nghe giảng Pháp, sáng sớm trên thiền viện Trúc Lâm Hàm Rồng – Thanh Hóa.
Đền thờ các Bà Mẹ Việt Nam anh hùng và các Anh hùng Liệt Sĩ Hàm Rồng.
Trong khuôn viên 150.000m2 trên đồi Cánh Tiên – núi Hàm Rồng, đền có 16 hạng mục công trình theo lối kiến trúc đền thờ truyền thống gồm : Không gian thờ chính, bia tri ân, hồ Bán Nguyệt rộng 600m2, gác chuông và gác trống đối xứng 2 bên đền thờ, tháp Tụ Linh 9 tầng . . .
 
Hang Mắt Rồng. Tên chính thức là động Long Quang, cũng trên núi Hàm Rồng, nằm gần quốc lộ 1 cũ và ở lưng chừng núi, nhìn xuống sông Mã. Từ xa xưa đã có nhiều vua chúa và tao nhân mặc khách ghé tham quan hang này. Năm 1478, vua Lê Thánh Tôn đã đến đây, đặt tên cho hang là Thiên Nam Động Chủ và có bài thơ khắc trên vách đá, còn được giữ gìn đến hôm nay.
 
Động Long Quang – Hang Mắt Rồng trên lưng chừng núi Hàm Rồng.
Thanh Hóa có nhiều di tích lịch sử, nhiều danh lam thắng cảnh đẹp, du khách nên dành thêm thời giờ để được tham quan cho thoải mái. Bạn nào thuộc dạng “tốt bụng” có thể thưởng thức được nhiều món ngon vật lạ của xứ này. Có thể liệt kê vài thứ để các bạn thưởng thức khi có dịp ghé Thanh Hóa.
 
Nem chua. Thường thì chúng ta ăn nem Huế, bây giờ có dịp được nếm thử nem chua Thanh Hóa. Chọn thịt nạc mông heo tươi, không dính mỡ không dính gân, giã bằng tay trong cối hoặc như bây giờ là xay, trộn đều với bì luộc cắt sợi nhỏ dài, nêm thêm hạt tiêu – ớt – tỏi, gói với lá đinh lăng, bên ngoài có lá chuối. Để vài ngày cho nem lên men, cho ta đầy đủ hương vị như trong cuộc đời này : Chua – cay – ngọt – mặn – nồng – thơm . . .
 
Nem chua Thanh Hóa. Xưa kia được gói trong lá đinh lăng, lá chuối bên ngoài. Bây giờ bên ngoài vẫn còn được gói bằng rất nhiều lá chuối để . . . thấy cho to !
 
Chả tôm. Lựa tôm tươi còn sống màu sáng không bị thâm đen. Thịt ba chỉ lấy loại có nhiều mỡ hơn nạc một chút để lúc xào nấu dậy lên mùi thơm, lọc bỏ bì và xắt nhỏ. Tôm và thịt được giã trong cối sẽ ngon hơn vì khi ăn còn cho cảm giác vẫn là miếng tôm thịt, xay bằng máy cũng được nhưng đừng xay bị nát. Gấc tươi ngâm vài phút trong rượu nếp trắng, bỏ hột và giã nhuyễn, trộn đều với phần tôm thịt đã giã.
 
Chả tôm Thanh Hóa, ăn nóng và dùng với nhiều rau.
 
Phần nhân gồm tôm – thịt – gấc đã nhuyễn, được gói chặc bằng bánh phở to bằng lòng bàn tay, dày và dai hơn bánh cuốn để không bị bể. Kẹp vào vỉ tre, nướng hai mặt trên bếp than hồng đến khi thấy hơi cháy cạnh là được. Nước chấm chua ngọt có đu đủ và cà rốt xắt mỏng, pha với ớt – chanh – tỏi – đường – tiêu. Khi ăn, kèm với rau sống, rau thơm, rau má, tía tô, diếp cá. Bon Appetit !
 
Cá rô Đầm Sét. Có nhiều ở xã Xuân Thiên huyện Thọ Xuân, nằm ở hạ lưu sông Mã, giàu phù sa. Cá này béo và ngon nhất vào dịp cuối hè đầu thu, chỉ to cỡ 2 – 3 ngón tay, màu phơn phớt vàng như nghệ, tròn trịa, vẩy xanh bóng. Nấu canh, chiên hay nướng đều ngon. Chọn những con nhỏ vừa để chiên giòn, ăn được cả xương lẫn đầu. Có thể nướng với rơm ngay trên cánh đồng.
 
Cá rô Đầm Sét, chỉ to cỡ 2 – 3 ngón tay, chiên giòn ăn luôn cả đầu và xương.
 
Ngày trước cá rô Đầm Sét được rán với mỡ heo và dùng củi nên thơm mùi khói và là món được chọn để dâng – tiến cho vua thưởng thức. Món cá này đi đôi với nước mắm Vạn Vân của gia đình nhạc sĩ Đoàn Chuẩn. Ngoài Bắc có câu :
 
Dưa La cà Láng, nem Báng tương Bần
Nước mắm Vạn Vân, cá rô Đầm Sét.
 
Phi Cầu Sài. Loài này sống được ở nước mặn lẫn nước lợ, có nhiều ở vùng ven biển Cầu Sài và trên một khúc sông Trà, ranh giới hai huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc. Có hình dáng như trai biển, vỏ mỏng và dài nửa gang tay, ruột dày trắng ngần, sống sâu dưới cát và phải gian nan – khó khăn – vất vả dựa vào con nước mới đào bắt được.
 
Phi Cầu Sài, có nhiều trên một khúc sông Trà, ranh giới của hai huyện Hoằng Hóa và Hậu Lộc.
 
Phi được ngâm nước muối nhạt cho sạch hết cát, chế biến lúc còn sống. Có thể ăn phi kiểu tái hoặc rán, với các loại rau thơm chấm nước mắm gừng – tiêu – ớt – tỏi. Cháo phi được đánh giá bổ dưỡng và lành, hợp với người già và trẻ em.
 
Thành phố Thanh Hóa ngày nay rất lớn, phát triển nhanh, có nhiều khu đô thị mới. Muốn có cái nhìn bao quát về phố phường nơi đây chúng ta phải dùng đến xe máy. Ban ngày đã đi xe máy lang thang ở những huyện lân cận nên chiều tối mình thường “nghỉ lưng”, thay vào đó là dùng đôi chân, coi như bài tập thể dục thể thao.
 
Dạo bộ loanh quanh khu vực ngả tư tượng đài Lê Lợi, có thể gọi là khu phố Cũ cũng được, lang thang ngắm nhìn nhà cửa sinh hoạt phố phường, tình cờ khám phá vài tụ điểm ẩm thực và được thưởng thức mấy “món ngon vỉa hè”, xin được kể lại :
 
Bánh Khoái tép. Gạo tẻ ngâm xong xay thành bột nước và thứ không thể thiếu là tép tươi, tép đồng còn đang nhảy tanh tách mua từ lúc sáng sớm. Rau cần bỏ lá chỉ dùng thân cắt nhỏ, bắp cải xắt sợi mỏng. Chảo được dùng là chảo gang lòng sâu, trên bếp than hồng.
 
Bánh khoái tép, đặc sản Thanh Hóa.
 
Khách gọi xong mới bắt đầu tráng bánh, mỏng và giòn. Phải chờ một tí để cảm thấy bụng đói và được ăn nóng. Nước chấm gồm nước mắm ngon, có đu đủ – cà rốt – trái sung cắt nhỏ, thêm vị chua chua thanh tao của quất, hơi cay cay của tiêu ớt. Món ăn dân dã, giá bình dân, thường được dùng trong những chiều tối rét mướt se se lạnh.
 
Bánh Ích. Là sự kết hợp tài tình của bánh ít và bánh nếp, có hình tròn màu trắng, vỏ ngoài làm bằng bột nếp. Nhân bánh gồm tôm và thịt băm nhỏ ướp gia vị rồi đem hấp. Lúc ăn, rưới lên bánh một lớp mỏng mỡ hành.
 
Ốc Mút Thanh Hóa. Ốc len, được bắt ở vùng biển Thanh Hóa, ngâm trong chậu nước to cùng với ớt tươi 1 – 2 ngày để nhả hết chất bùn. Sau đó rửa sạch ốc, đem phơi nắng cho mùi bùn trong ốc bay đi. Lúc ăn dùng kềm cắt phần đuôi và . . . mút.
Vị đậm đà cùng mùi sả – gừng – lá chanh – ớt thơm nức nở sẽ làm du khách nhớ đến món này. Nước chấm rất đặc biệt, được chế biến từ bột năng, mẻ, nghệ, đặc quánh và gọi là “chẻo”.
 
Ốc hút. Khách được nhận cái kềm, dùng để cắt đuôi ốc và cho lên miệng . . . hút.
 
Bạn nào lỡ ngon miệng ăn nhiều quá, nên xin một bát nước ốc để uống vì nước ốc luộc với sả – gừng – chanh – ớt sẽ bù lại tính hàn của ốc. Ở phố Bến Ngự gần chùa Thanh Hà và con kênh Bến Thủy có cả chục quán chuyên bán ốc nên địa điểm ẩm thực này được gọi là ốc chùa Thanh Hà.
 
Chè lam Thanh Hóa. Sau mấy món mặn, bây giờ đến lúc kết thúc chương trình ẩm thực với món tráng miệng. Lúc mới nghe chè lam mình cứ nghỉ là uống nước trà nên không để ý tới.
 
Sau đó mới biết đây là một món ngọt dùng sau bữa ăn và được thưởng thức với ấm nước trà xanh. Món này xuất xứ từ miền trung du Thanh Hóa, nổi tiếng nhất là Chè Lam Phủ Quảng.
 
Chè Lam Phủ Quảng. Ngày xưa được coi như món ngon đặc biệt chỉ dùng vào dịp cúng giỗ, lễ Tết. Nhâm nhi với trà xanh.
 
Nguyên liệu được lựa chọn rất kỹ : Gạo nếp cái hoa vàng, đậu phụng – ngoài bắc gọi là lạc, gừng và mật mía Kim Tân. Khi xưa phải xay gạo bằng cối đá rất vất vả, làm mật mía cũng qua nhiều bước rất công phu, tỉ mỉ. Bánh được cắt theo kích thước dày 1,5cm và dài cỡ bằng ngón tay, gói cẩn thận bằng lá chuối khô rồi cho vào chum vại sành để bảo quản.
 
Lúc ăn chè lam, ta nhận được hương vị dẻo thơm của nếp cái hoa vàng, vị bùi của đậu phụng, vị cay dịu của gừng già, vị ngọt đậm của mật mía. Sẽ là thiếu sót nếu không có ấm trà xanh đi cùng. Ngày xưa được dùng như món ngon đặc biệt, chỉ dùng vào dịp cúng giỗ, lễ Tết.
 

Đêm đã khuya, phố xá im ắng, lại có dịp tà tà lội bộ về nhà trọ, qua mấy con đường vắng chìm trong màn đêm, coi như để tiêu hóa mấy món ngon của xứ Thanh Hóa.

Nguyễn Chi Hoài Nhơn

Photos:

Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
Google Photo
 

0 Lời bình luận

Viết lời bình luận

Enter Captcha Here : *

Reload Image

Liên Lạc

Thư từ xin gởi về nguyenchihoainhon @gmail.com

Số lượt trang đọc

37,897

Tìm Kiếm