Du ký ngược Đường Hồ Chí Minh, đơn thân độc mã – một người một ngựa sắt Honda Blade 110cc, từ Sài Gòn theo quốc lộ 14 xuyên Cao Nguyên Trung Phần ra đến Khe Sanh – Quảng Trị. Từ Khe Sanh, đi tiếp Đường Hồ Chí Minh theo nhánh phía tây gần biên giới Việt Nam – Lào đến thị xã Thái Hòa – Nghệ An.
Bài số 17. Từ Đức Thọ theo quốc lộ 15 ghé viếng đền thờ Mai Hắc Đế, khu di tích lịch sử Truông Bồn, Cột mốc Đường mòn Hồ Chí Minh – Km 0, về thị xã Thái Hòa.
Thị trấn Đức Thọ nằm trong vùng sông núi hữu tình. Sông Ngàn Phố từ trên dãy Trường Sơn phía tây, sông Ngàn Sâu từ phía nam. Đến Đức Thọ hai sông này hòa thành sông La. Sông La chảy qua thị trấn Đức Thọ, lờ lững thêm 7km nữa, nhập vào sông Lam của Nghệ An từ hướng tây bắc đi xuống.
Từ ngả 3 này, sông Lam là ranh giới thiên nhiên của hai tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh, xuôi ra biển theo hướng đông bắc, uốn lượn 25km đến thành phố Vinh, thêm 15km nữa để ra đến Cửa Hội – Biển Đông. Phía bên địa phận Nghệ An có con đường ven đê tả ngạn Sông Lam tương đối tốt và cảnh rất đẹp. Bạn nào dư một tí thời giờ, có thể cỡi xe đi dạo trên con đường đê Tả ngạn Sông Lam đến bãi biển Cửa Hội, đi đường biển 10km Cửa Hội – Cửa Lò và sau đó 20km từ bãi biển Cửa Lò đi ngược về trung tâm thành phố Vinh.
Đức Thọ có vị trí đặc biệt, không xa biển, gần rừng núi và ngay bên cạnh nhiều con sông lớn chảy ngang nên nhận được nguồn nguyên liệu thực phẩm phong phú để chế biến thành nhiều món ăn rất hấp dẫn.
– Bún bò. Sợi bún được làm từ gạo nơi đây. Nước dùng được hầm từ xương ống và đuôi bò, nuôi tại địa phương.
– Hến sông La. Đặc biệt nơi sông La nhập vào sông Lam là vùng nước lợ, có loại hến rất ngon. Có mấy món được chế biến từ hến như cơm hến với cà muối, canh hến với rau tập tàng hoặc giống như ở phố Cổ Hội An là hến xào, xúc bằng bánh tráng.
– Mực Nhảy Vũng Áng. Giống như bánh xèo tôm nhảy ở Qui Nhơn, vì mực còn tươi nên nhảy tanh tách, màu trắng trong suốt, sau chuyển sang màu hồng nhạt, được dùng để làm gỏi – xào – luộc hoặc hấp và chấm với nước mắm ớt – gừng – tỏi.
– Gỏi cá Đục. Được đánh bắt gần bờ biển, dài chừng 12cm – 14cm, thịt chắc và mùa nào cũng có. Cuốn bằng bánh tráng và rau thơm – lá sung – lá đinh lăng, kèm với xoài non – khế chua – chuối xanh xắc mỏng. Bon Appetit !
– Bánh Bèo. Đừng ngạc nhiên khi ta gọi dĩa bánh bèo và nhận được dĩa bánh . . . bột lọc rất ngon với nhân là con tôm non bóc vỏ hoặc là thịt nạc trộn với mộc nhĩ xào lên, dùng với hành khô. Ngôn ngữ thay đổi, biến hóa theo vùng miền, vui thiệt !
– Bánh Gai. Có xuất xứ từ nơi đây và được lan truyền ra khắp miền Trung, được làm bằng bột gạo. Nhân mặn làm từ thịt mỡ, nhân ngọt có đậu tằm và mứt dừa. Màu đen có từ mật mía và lá gai.
– Trái Hồng. Hồng Đông Lộ – Thạch Hà có hình vuông, vỏ vàng ruột vàng và loại hồng ngon đặc biệt thường được dâng cho vua nên gọi là hồng Tiến – Nghi Xuân màu sẫm đậm.
Lữ khách cô đơn – một người một ngựa và bụng lại nhỏ – “nhẹ dạ” nên không thể thử hết mấy đặc sản vô cùng hấp dẫn nơi đây. Đang đi trên đường, chỉ thưởng thức được mấy món đơn giản nhưng vẫn ngon như bún bò giò heo, hến sông La hoặc bánh bèo.
Đức Thọ ngày nay là vùng La Sơn ngày xưa. Vùng đất này địa linh nên nhân kiệt nhiều lắm, có thể kể vài dòng họ như Phan Đình, Hà Học, Hoàng Xuân, Nguyễn Khắc . . .
La Sơn Phu Tử – Nguyễn Thiếp, 1723 – 1804, đã từ quan về quê ở ẩn từ lâu nhưng vẫn được Tĩnh Đô Vương – chúa Trịnh Sâm truyền mời ra Thăng Long để vấn kế. Ông khuyên chúa không nên tiếm quyền vua Lê mà phải biết giữ nghĩa tôi trung, chăm lo cho muôn dân trăm họ. Nhà chúa không nghe, Ông chán nản xin cáo từ, về quê sống ẩn dật, không nhận chức tước hay bổng lộc gì.
Nguyễn Huệ 3 lần ra Bắc, vì mến mộ nên đều có thăm hỏi Ông. Lần thứ 3, trước Tết Kỷ Dậu 1789, gặp Nguyễn Thiếp, hai bên chuyện trò rất tâm đắc. Khi vua Quang Trung hỏi về chuyện quân Thanh, Nguyễn Thiếp đã trả lời : “Người Thanh ở xa tới, mệt nhọc, không biết tình hình khó dễ thế nào, nó có bụng khinh địch. Nếu đánh gấp thì không ngoài 10 ngày sẽ phá tan, nếu trì hoãn một chút thì khó lòng mà được”. Như chúng ta biết, diễn biến trận quyết chiến với giặc Thanh đã xảy ra đúng như dự kiến thiên tài của vua Quang Trung và nhận định chính xác của Nguyễn Thiếp.
Người hùng Quang Trung – Nguyễn Huệ, rất tiếc đã động não lo cho việc nước nhiều quá nên qua đời rất sớm vì tai biến mạch máu não, lúc mới 39 tuổi – năm 1792. Vua kế vị Quang Toản không giữ được di sản to lớn của Quang Trung – Nguyễn Huệ để lại, để rồi 10 năm sau chúa Nguyễn Phúc Ánh đánh dẹp triều Tây Sơn, thống nhất sơn hà và lên ngôi là vua Gia Long.
Vua Gia Long có lòng kính trọng, mời Nguyễn Thiếp tham gia chính quyền mới nhưng Ông từ chối, lui về ở ẩn và qua đời năm 1804. Có thể suy đoán là La Sơn Phu Tử chỉ ngưỡng mộ và chịu cộng tác với vua Quang Trung – Nguyễn Huệ, còn Gia Long – Nguyễn Phúc Ánh chắc không được Ông mến mộ và lúc đó tuổi đã cao nên Ông đã tìm cách từ chối khéo.
Ở đất này còn có Thạc sĩ Hoàng Xuân Hãn, 1908 – 1996, học sinh tú tài xuất sắc và được học bổng du học Pháp. Xin được chú thích là học vị Thạc Sĩ – Agrégé chỉ có trong hệ thống giáo dục của Pháp để trở thành giáo sư chuyên giảng dạy, những quốc gia khác không có học vị này, không so sánh với Master của Mỹ và hoàn toàn không dính líu một chút nào với chất lượng của mấy chục ngàn Thạc Sĩ đang tràn ngập ở Việt Nam thời bây giờ.
Giữa thập kỷ 1930, tốt nghiệp xong mấy đại học của Pháp, Ông về Việt Nam tích cực tham gia vào công việc giảng dạy. Tháng 4 năm 1945, với vai trò bộ trưởng giáo dục trong nội các Trần Trọng Kim chỉ kéo dài vài tháng, Ông đã có cơ hội cho áp dụng trên cả nước một chương trình giáo dục mới, được Ông dày công nghiên cứu ấp ủ từ lâu, rất được mọi người hoan nghênh và thường gọi là “chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn”, đã Việt hóa dạy bằng tiếng Việt tất cả những từ ngữ chuyên môn, trước đó đã phải dạy bằng tiếng Pháp.
“Chương trình giáo dục Hoàng Xuân Hãn” đã giáo dục nên người đàng hoàng tử tế cho hàng triệu triệu người Việt Nam, trong đó có thế hệ chúng tôi. Đi khắp thế giới và luôn luôn tự tin, nhưng vì khiêm nhường nên không viết là tự hào hay chữ “kiêu hãnh” như báo chí ngu dốt hiện nay thường dùng, chúng tôi vẫn ngẩng cao đầu sánh vai với bạn bè quốc tế. Nhìn nền giáo dục của Việt Nam hiện nay, đã vô cùng tốn kém mà vẫn ì ạch mấy chục năm qua, người có trách nhiệm không khỏi lo ngại cho vận mệnh đất nước.
Từ lâu, nạn quan liêu – dốt nát – trì trệ đã thấm sâu vào hệ thống giáo dục đào tạo ở nước Ta. Tệ nạn mua bán bằng cấp đã trở nên bình thường, mua quan bán chức xảy ra khắp nơi trong các cơ sở giáo dục. Trường cao đẳng hoặc “đại học – học đại” gì đó chỉ cho thiên hạ cái cảm tưởng là mở ra chỉ để bán bằng cấp cho hợp pháp, cho “đúng qui trình” như xã hội hiện nay vẫn thường nói.
Đã có nhiều vụ án trong ngành giáo dục bị phanh phui, thí dụ nhiều “lãnh đạo” ở “đại học – học đại” Đông Đô – Hà Nội bị truy tố ra tòa và đã lãnh án. Không biết bao nhiêu ngàn hay bao nhiêu chục ngàn tiến sĩ, thạc sĩ, cử nhân đã mua bằng của “đại học – học đại” này, và đang điều hành đất nước này ? Những viên “đạn bọc đường” ngọt ngào quá, “giặc tham nhũng” mạnh quá, không thế lực nào đánh dẹp nổi nên nền giáo dục bên ta hiện nay càng ngày càng đi xuống, thê thảm quá !
Sinh viên đại học ở xứ Ta học mấy năm, cố gắng “phù phép” để ôm mấy cái bằng đi xin việc thì chẳng nơi nào dám nhận vào làm vì đa số có trình độ coi như . . . “hổng biết gì” và thực sự là không biết gì thiệt ! Các công ty nước ngoài tại Việt Nam phải tốn rất nhiều tiền để thuê nhân viên ngoại quốc qua nước ta làm việc, trong khi theo báo cáo và thống kê của ta thì tỷ lệ “nhân tài” – tiến sĩ – thạc sĩ của Việt Nam hiện nay rất cao trên thế giới ! Không phải đáng để tự hào mà là rất đáng để xấu hổ vì đồ giả nhiều quá, rác rưởi nhiều quá !
Địa linh nhân kiệt, đất này nhiều người tài. Trước khi rời đất Hà Tĩnh, xin được nhắc đến một nhân vật trong thời đại của chúng ta : Bác sĩ Nguyễn Khắc Viện.
Ông sinh năm 1913, xuất thân trong một gia đình khoa bảng, thân phụ là Hoàng Giáp Nguyễn Khắc Niêm, 1889 – 1954, một đại thần triều Nguyễn. Ông đang học y khoa ở Hà Nội thì được qua Paris học tiếp và trở thành bác sĩ nhi năm 1941. Kẹt Thế Chiến thứ Nhì nên không về Việt Nam được.
Sau đó Ông bị bệnh lao nặng, trong 5 năm phải lên bàn mổ 7 lần, cắt bỏ 8 xương sườn cắt nguyên lá phổi bên phải và 1/3 lá phổi bên trái. Các bác sĩ Pháp tiên đoán Ông chỉ sống được nhiều lắm là 2 năm. Trong thời gian bị lãnh “án tử”, Ông nghiên cứu sâu thêm về tâm lý – triết học – khí công – yoga, kết hợp đông và tây y để tìm ra phương pháp hít thở tối ưu, tự chữa bệnh cho mình để có thể tồn tại và Ông đã sống, làm việc, có nhiều cống hiến cho xã hội được thêm . . . 50 năm !
Do hoạt động chống chiến tranh, năm 1963 Ông bị chính phủ Pháp trục xuất. Về Hà Nội Ông sáng lập và chủ biên Tạp chí đối ngoại Nghiên cứu Việt Nam – Etudes Vietnamienes và báo Tin tức Việt Nam – Le Courrier du Vietnam. Chính phủ Pháp, năm 1963 trục xuất Ông ra khỏi nước Pháp nhưng cũng chính chính phủ Pháp trao tặng Ông năm 1992 giải thưởng Grand Prix de la Francophonie của Viện Hàn Lâm nước Pháp, dành cho những người có đóng góp to lớn làm phong phú ngôn ngữ và văn chương Pháp. Trọn số tiền giải thưởng trị giá gần 100.000 USD được Ông hiến tặng cho Trung tâm Nghiên cứu Tâm lý Trẻ em do vợ chồng Ông sáng lập.
Từ 1978 đến cuối đời, Ông đã mạnh dạn gửi nhiều thư tâm huyết đến lãnh đạo các cấp, viết nhiều bài báo, kiến nghị các vấn đề bức xúc, trong đó có chuyện về dân chủ, tôn trọng tiếng nói đa chiều của nhân dân, đổi mới các chính sách về tiền lương, bỏ các đặc quyền đặc lợi, quan tâm đến bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế v. . . v. . . Không ai phản biện được những gì Ông đã kiến nghị để cải cách xã hội nhưng đọc rồi để đó, coi như “nước đổ lá môn”, thậm chí còn tìm cách cô lập Ông.
Cuối tháng 11 năm 1986, trước thềm đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 6 – còn được gọi là “đại hội đổi mới hay là chết”, Nguyễn Khắc Viện đã có tâm thư – kiến nghị sâu sắc gửi cho ban lãnh đạo Đảng Cộng sản Việt Nam. Và Ông còn có thêm một lá thư, lời lẽ rất chân tình, gửi Tố Hữu – một nhà thơ, ủy viên Bộ Chính trị phó Thủ tướng thường trực, đang phải đối phó với những khó khăn rắc rối vô cùng vì chuyện giá – lương – tiền. Xin tóm tắt nội dung :
Ngày 30 tháng 11 năm 1986
Kính gửi anh Tố Hữu
Hôm nay nhân xem lại vài bài dịch thơ của anh trong Anthologie de la littérature Vietnamien – Tuyển tập Văn học Việt Nam, thấy không thể không gửi cho anh bức thư này.
Anh Tố Hữu ạ ! Trước kia đọc thơ, dịch thơ anh cảm hứng đằm thắm bao nhiêu thì nay thấy ngán ngẩm bấy nhiêu. Anh bảo làm bí thư vẫn không bí thơ, nhưng chúng tôi thấy anh ngày càng quyền cao chức trọng, đọc thơ anh càng thấy nhạt nhẽo.
Anh mà trở lại Trung Ương, trở lại chức quyền, là chôn vùi luôn sự nghiệp thơ trong lòng nhân dân. Rút lui đi, anh Tố Hữu, cứu lấy nhà thơ Tố Hữu. Anh mà trở lại Trung Ương – Bộ Chính Trị, thì bài báo đối ngoại đầu năm tôi phải viết sẽ là bài “La mort d’un poète – Cái chết của một nhà thơ”.
Ông thực sự là Kẻ Sĩ hiện đại – uy vũ bất năng khuất, mang cốt cách nhà nho, trọng đạo lý phương đông nhưng lại có đầu óc khoa học thực tiễn của phương tây. Hơn ai hết, Ông hiểu rõ ý nghĩa câu ngạn ngữ Pháp : “Ceux qui ont raison trop tôt, ont tort – Ai đúng sớm quá là sai”.
Bác sĩ – nhà báo – nhà văn hóa – nhà hoạt động cách mạng Nguyễn Khắc Viện còn là tấm gương sáng về rèn luyện sức khỏe để chống lại bệnh tật. Ông từng nói sau này mất đi, những gì Ông để lại không phải là những tác phẩm văn học triết học này nọ mà chính là bài vè dạy thở chỉ 12 câu :
Thót bụng thở ra
Phình bụng thở vào
Hai vai bất động
Chân tay thả lỏng
Êm – chậm – sâu – đều
Tập trung theo dõi
Luồng ra luồng vào
Bình thường qua mũi
Khi gấp qua mồm
Đứng ngồi hay nằm
Ở đâu cũng được
Lúc nào cũng được!
Tuy rất quý từng giây phút của sự sống và kiên trì tập luyện để được sống nhưng đến tuổi 84 – năm 1997, khi sức khỏe trở nên kiệt quệ, Ông đã viết thư cho các đồng nghiệp ngành y, đề nghị không có bất cứ sự can thiệp nào khi mình ngã bệnh, để cho mình được ra đi nhẹ nhàng. Và mọi sự đã xảy ra đúng như ước nguyện của Ông.
Xin lỗi đã dẫn các bạn đi lạc đường xa quá, xin được quay trở lại với hành trình của chúng ta hôm nay, trên đường Thiên Lý ra phương Bắc.
Rời Đức Thọ ở cầu Linh Cảm, nơi gặp nhau của sông Ngàn Phố và sông Ngàn Sâu. Từ đây về hạ nguồn, sông có tên là sông La, lững lờ ngang qua thị trấn Đức Thọ bên hữu ngạn khoảng 10km rồi nhập vào sông Lam, cùng nhau chảy ra Biển Đông ở Cửa Hội – thành phố Vinh.
Qua cầu Linh Cảm chừng vài cây số chúng ta đi vào địa phận tỉnh Nghệ An. Lộ trình vẫn đi trên quốc lộ 15.
Km 24 – Cầu Nam Đàn qua sông Lam.
Tới đây chúng ta gặp sông Lam, qua cây cầu là đến thị trấn Nam Đàn. Mấy năm trước đi ngang qua đây mình đã ghé tham quan chỗ nhà Bác Hồ ở lúc còn nhỏ, lần này được viếng lăng mộ và đền thờ vua Mai Hắc Đế ngay tại thị trấn này, bên sông Lam, chỉ cách cầu Nam Đàn 1km.
Đền nằm ở thế đất đẹp, gần sông Lam và dưới chân một ngọn núi, phía trước có hồ sen. Phía sau đền thờ là mộ của vua, đặc biệt có hai cây trồng cách nhau nhiều thước, lúc mọc cao thì mấy cành lớn dính nhau như được ghép lại. Đầy cả sân trước đền, đang hiện diện hàng hàng lớp lớp tướng sĩ binh lính và rất nhiều ngựa, sẵn sàng đợi được . . . đem đi đốt !
Hiện nay tại nước ta, người quan sát khách quan có thể nhận thấy điều này : Khách đến viếng đền thờ các danh nhân lịch sử, đại đa số không phải đến vì tấm lòng ngưỡng mộ vì biết ơn vì muốn tìm hiểu thêm về những vị này mà toàn là những người không biết nhân vật đang được thờ trong đền này là ai, đã có những cống hiến gì mà lại được nhân dân tôn thờ. Đó thực sự là chuyện cười ra nước mắt, mỉa mai và phũ phàng vô bờ bến ở nước Ta !
Ngày nay đa số người đến các đền thờ là người vướng vào tham – sân – si nặng nề quá nên đến đền để mua chuộc hối lộ thần thánh. Chồng con làm quan, tham ô nhiều chục nhiều trăm tỷ sắp bị tố và lãnh án, có nguy cơ bị vô tù dài hạn và tịch thu tài sản nên đến đây cúng vài triệu, vài chục triệu hoặc vài trăm triệu để mong là sẽ được “giải hạn”, thêm vào nữa là hạng người chuyên mua gian – bán lận – tham lam – lừa đảo, lúc nào cũng nơm nớp lo sợ luật nhân quả ra tay trừng phạt nên phải đem một phần nhỏ tiền dơ bẩn đã lừa bịp được đã kiếm chác được để mua chuộc hối lộ thần thánh mà thực ra là vô túi tụi chuyên môn xúi dục thiên hạ bày trò mê tín dị đoan để trục lợi.
Mình thường có dịp đến viếng nhiều đền – đài – miếu – am – chùa khắp nơi trên cả nước và luôn luôn phải ngậm ngùi – ngao ngán – buồn chán pha lẫn phẫn nộ khi phải chứng kiến toàn tụi mê tín dị đoan lộng hành, làm ô uế những nơi thiêng liêng này mà lại ngang nhiên đem chiêu bài “tâm linh tín ngưỡng”, “bản sắc dân tộc”, “Di sản Văn hóa phi vật thể” ra hù dọa thiên hạ để tự tung tự tác và thu hoạch hàng tỷ tỷ tiền vào túi riêng !
Nói chuyện tệ đoan ngày nay mà lại quên mất, chưa nhắc nhau chuyện hào hùng chống giặc Tàu đô hộ của cha ông ta ngày xưa.
Mai Hắc Đế, 670 – 722, tên thật là Mai Thúc Loan, thủ lãnh một cuộc khởi nghĩa ở Hoan Châu, thuộc Nam Đàn – Nghệ An bây giờ, chống lại ách đô hộ của nhà Đường, kéo dài 10 năm, 713 – 722. Sau khi đánh đuổi được tên quan Thái thú nhà Đường đang cai trị nước Ta là Quang Sở Khách, Ông lên ngôi và đặt tên nước là Vạn An – muôn đời bình yên. Chắc cũng giống như trước đó 170 năm, vua Lý Nam Đế khi lên ngôi đã đặt tên nước Ta là Vạn Xuân – muôn đời mùa Xuân chăng ?
Để lại thị trấn Nam Đàn sau lưng, chúng ta có hai sự lựa chọn để đi tiếp về phương Bắc : Quốc lộ 46 qua thị trấn Thanh Chương hoặc quốc lộ 15 qua Truông Bồn để đến Đô Lương.
Kỷ niệm ở Thanh Chương là ghé thăm anh bạn Nguyễn Dương vào dịp mùa đông ngày Giáng Sinh lạnh lẽo năm nào. Rất muốn đi lễ nhà thờ đêm Noel để được tĩnh tâm và hát “Đêm thánh vô cùng” hoặc “Bài thánh ca buồn” nhưng oái ăm là mình đi khắp nơi, đâu đâu cũng gặp nhà thờ nhưng tại thị trấn Thanh Chương lại không có nhà thờ, đúng là không có duyên !
Lộ trình chúng ta là đi theo quốc lộ 15, Đường mòn Hồ Chí Minh ngày xưa.
Km 41 – Khu Di tích Lịch sử Truông Bồn, xã Mỹ Sơn huyện Đô Lương tỉnh Nghệ An.
Truông theo ngôn ngữ vùng Nghệ An – Hà Tĩnh – Quảng Bình có nghĩa là một khu vực địa thế hiểm trở, len lỏi đi qua giữa những vách núi. Lúc nhỏ, học lịch sử về thời chúa Nguyễn chúng ta đã biết câu :
Thương anh, em cũng muốn vô
Sợ truông nhà Hồ, sợ phá Tam Giang.
Cung đường đi ngang Truông Bồn có địa hình rất hiểm hóc, dài 5km vừa hẹp vừa dốc, qua cả dãy đồi núi liền kề với nhau là núi Voi núi Mồng Gà núi Cột Cờ, xen kẽ những thung sâu nên tương đối kín đáo, an toàn và là nơi lý tưởng để nghỉ ngơi ẩn náu. Địa điểm này có vị trí chiến lược rất quan trọng, nằm trên Đường mòn Hồ Chí Minh năm xưa. Sau Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân, Mỹ tập trung sức mạnh không quân và hải quân để dội bom đánh phá ác liệt những tỉnh từ Thanh Hóa đến Quảng Trị.
4 giờ sáng ngày 31 tháng 10 năm 1968, mọi người khẩn trương tập trung san lấp những hố bom để thông đường cho xe chạy. Đến 6 giờ 10 phút thì có báo động máy bay Mỹ tới thả bom. Một tốp 4 oanh tạc cơ trút xuống 2 loạt với 238 trái bom. Truông Bồn chìm ngập trong bom đạn khói lửa mịt mù. 13 chiến sĩ của tiểu đội 14 người đã hy sinh vào “Giờ thứ 25”, khi chỉ còn vài tiếng đồng hồ nữa, tổng thống Mỹ chính thức tuyên bố trên truyền hình là ngừng ném bom trên toàn miền Bắc.
Km 58 – Thị trấn Đô Lương.
Chuẩn bị để trở thành thị xã, Đô Lương là một thị trấn lớn, một nút giao thông quan trọng tỏa ra bốn hướng đông – tây – nam – bắc. Đặc biệt nơi đây có quốc lộ 7 đi theo trục ngang, hướng đông – tây, bắt đầu ở Diễn Châu bên Biển Đông tiến về hướng tây, đến Đô Lương ven theo hữu ngạn sông Cả, cắt ngang Đường Hồ Chí Minh, qua Anh Sơn, Con Cuông, Tương Dương, Mường Xén.
Sau khi đi 170km dài theo sông Cả từ Đô Lương đến Mường Xén, quốc lộ 7 rời sông này, leo 22km ngoằn ngoèo khúc khuỷu, vượt đèo Noọng Dẻ để đến biên giới Việt Nam – Lào tại cửa khẩu quốc tế Nậm Cắn. Đây là con đường có từ hồi Đông Dương còn thuộc Pháp nên qua bên Lào cũng vẫn là quốc lộ 7, xuyên qua Cánh Đồng Chum – Cao Nguyên Xiêng Khoảng và dẫn đến cố đô Luang Prabang xinh đẹp sau gần 400km.
Đây là chỗ phình ra rộng nhất của miền Trung nước Ta. Quốc lộ 7 từ Diễn Châu bên Biển Đông đến biên giới Việt Nam – Lào dài 220km, đi xuyên qua những vùng có địa hình – khí hậu – văn hóa – dân tộc – sông núi – động vật – thực vật rất phong phú. Lộ trình của chúng ta không vào quốc lộ 7 mà đi theo quốc lộ 15 để tiếp tục bắc tiến.
Km 75 – Suối khoáng nóng Giang Sơn.
Tại xã Giang Sơn, quẹo về phía tây chỉ 2km, chúng ta đến suối khoáng nóng bên cạnh suối và hồ Mộ Dạ. Từ xa đã ngửi có mùi lưu huỳnh. Nhiều người đến đây tắm bùn, ngâm mình trong nước khoáng có chất lưu huỳnh, chữa được một số bệnh, nhất là bệnh ngoài da. Tiếc là nơi đây cơ sở vật chất vô cùng yếu kém. Đã có nhiều công ty đến ngắm nghía khu suối khoáng nóng này nhưng tất cả chỉ là thụt thò chỉ là những dự án treo như rất nhiều rất nhiều nơi trên khắp đất nước ta.
Km 78 – Thị trấn Tân Kỳ.
Ngày 9 tháng 9 năm 1964, tại thị trấn Lạt giữa rừng núi phía tây Nghệ An, dưới chân núi Dong bên sông Con, viên đá đầu tiên để xây dựng Đường mòn Hồ Chí Minh huyền thoại đã được đặt xuống, để rồi những năm sau đó con đường mòn này vươn hình hài lớn dậy, thành một hệ thống giao thông chằng chịt, dài tổng cộng 17.000km với 5 trục lớn theo chiều dọc, 21 trục theo chiều ngang, cộng thêm đường ống dẫn nhiên liệu xăng dầu và đường dây truyền tin kéo dài hàng ngàn cây số tới Lộc Ninh – Bình Phước ở chiến trường miền Nam.
Với vị trí chiến lược, thị trấn Lạt huyện Tân Kỳ trở thành nơi tập kết để cán bộ, chiến sĩ, hậu cần, quân nhu, quân cụ, vũ khí, lương thực được chuẩn bị, sẵn sàng vào chi viện cho chiến trường miền Nam. Nơi đây được coi là điểm xuất phát để theo Đường mòn Hồ Chí Minh vào miền Nam nên thời bấy giờ có đặt một cột mốc ghi “Km 0” bằng tấm gỗ để kỷ niệm, sau này được thay bằng cột mốc xi măng và hôm nay là một công viên cây xanh có tượng đài ngay giữa thị trấn, đã có tên mới là Tân Kỳ.
Từ Tân Kỳ, Đường Hồ Chí Minh cũng là quốc lộ 15 dẫn về phương Bắc.
Km 120 – Thị xã Thái Hòa.
Lang thang rong ruổi cả ngày trời nên đến Thái Hòa trời đã ngã về chiều. Nhận phòng xong, dạo bộ tà tà ra đứng trên cầu sông Hiếu, kịp ngắm nhìn hoàng hôn buông xuống trên dãy Trường Sơn xa xa, ở phía tây.
Nguyễn Chi Hoài Nhơn
Photos: