Bài số 5 . Lá rụng về cội , từ Tuy Hòa qua Gành Đá Dĩa , tham quan nhà thờ Mằng Lăng , ghé viếng Hàn Mặc Tử , về Qui Nhơn .
Tháp Nhạn , công trình kiến trúc đền thờ Champa có từ thế kỷ thứ 12 , nằm ngay trung tâm thành phố Tuy Hòa , trên núi Nhạn . Nơi đây ta có cái nhìn toàn cảnh xuống sông Đà Rằng , cầu Hùng Vương , cửa biển và phố xá bên dưới .
Nhà thơ Phạm Thành Tài , 1932 – 1997 , thời trẻ quen và yêu cô nữ sinh xinh đẹp trường Nguyễn Huệ – Tuy Hòa . Hồi tưởng lại “chuyện tình buồn” , ông sáng tác bài thơ Anh còn nợ em , được nhạc sĩ Anh Bằng phổ thành ca khúc cùng tên , có đoạn :
Anh còn nợ em
Chim về núi Nhạn
Trời mờ mưa đêm .
Ông người gốc Ninh Hòa – Nha Trang nhưng chắc có thời gian sống và làm việc ở Tuy Hòa nên mới có “chim về núi Nhạn” trong bài thơ .
Lộ trình hôm nay không dài lắm , chỉ hơn 100 km chút xíu , coi như đường về quê vì 2 người trong đoàn là dân Qui Nhơn 100% , xong trung học phổ thông mới vào Sài Gòn học tiếp . Bạn Bắc Tiến cũng có thời gian học ở trung học Cường Để – Qui Nhơn .
Nhưng , trước hết phải lo chuyện . . . sạc pin . Đúng là đề tài muôn thưở và không dễ chịu chút nào với xe điện . Ghé khu Vincom Plaza ngay góc Hùng Vương – Trần Phú , có trạm sạc điện và mấy quán nước bên vỉa hè .
Bãi biển Tuy Hòa cát vàng mịn , sạch đẹp , chạy theo hướng nam – bắc và kéo dài hơn 10 km .
Nha Trang có tháp Trầm Hương , Tuy Hòa có tháp Nghinh Phong . Nằm đón gió bên bờ biển , ngay ngả 3 đường ven biển và đường Nguyễn Hữu Thọ , người có thời gian gắn bó với Tuy Hòa – Phú Yên .
Luật sư Nguyễn Hữu Thọ , 1910 – 1996 , đứng đầu trong phong trào Hòa Bình , luôn kêu gọi Nam – Bắc hiệp thương thống nhứt theo tinh thần hiệp định Genève . Ông bị giam lỏng – quản thúc – an trí tại Tuy Hòa hơn 6 năm , dưới thời tổng thống Ngô Đình Diệm .
Sau 2 lần tìm cách giải thoát cho luật sư không thành , và theo kế hoạch đã tính trước , một chiều cuối năm 1961, Ông đi xe đạp đến chân núi Chóp Chài , phía bắc Tuy Hòa . Một đơn vị đặc nhiệm đã đón và đưa ông về căn cứ của Mặt trận Dân tộc Giải phóng ở vùng rừng núi Tây Ninh an toàn .
Ngày 3/3/1962 tại căn cứ Kà Tum gần Tây Ninh , Ông được bầu làm Chủ tịch Ủy ban Trung ương Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam Việt Nam , và đảm nhiệm liên tục chức vụ này 15 năm . Lúc Bác Tôn Đức Thắng qua đời , luật sư Nguyễn Hữu Thọ làm Quyền Chủ tịch nước đến năm 1981 , sau đó là Chủ tịch Quốc hội , rồi Chủ tịch Mặt trận Tổ Quốc .
Chúng ta không dùng đường cao tốc Bắc – Nam , muốn né quốc lộ 1A nhiều xe tải nặng , và tìm tỉnh lộ – hương lộ – đường làng gần biển để đi .
Giống như Phan Rang , bãi biển nơi đây trải dài nhiều cây số , phía đất liền quỹ đất còn nhiều và đẹp , cho địa phương cơ hội rất lớn để đầu tư xây dựng những công trình xứng đáng với một thành phố có sông lớn và bờ biển dài đẹp .
Km 24 – cầu Ô Loan .
Đầm nước lợ , rộng gần 18 cây số vuông , độ sâu trung bình 1,2 m – 1,4 m , nối với Biển Đông bằng một lạch nước nhỏ , kéo dài từ cầu Ô Loan đến cảng cá Phú Lương.
Hải sản nơi đây có cá mú , ghẹ , tôm , cua . Đặc biệt là sò huyết Đầm Ô Loan , cơm dày – thịt ngon và thơm . Hai bên chân cầu có những tiệm ăn trên nhà bè , phục vụ khách các món thủy hải sản tươi sống tại địa phương .
Gần cầu Ô Loan là bãi biển hoang sơ và làng chài An Hải , có thuyền chở khách qua cù lao Mái Nhà , chỉ cách bờ 3 km và đang là địa điểm du lịch hấp dẫn .
Vùng này có dân cư lâu đời , nhiều đường ngang ngõ dọc dễ bị đi lạc . Qua Phú Hội , Phú Hạnh tới Gành Đá Dĩa .
Km 35 – Gành Đá Dĩa .
Thắng cảnh độc đáo của Phú Yên . Hàng triệu năm trước , do hoạt động phun trào của núi lửa , dung nham khi nguội , đông cứng và nứt bể thành các cột đá bazan hình lăng trụ đồng đều trên diện tích chừng 2.700 mét vuông , ngay bên bờ biển .
Nhiều nơi trên thế giới cũng có hiện tượng này . Ở Bắc Ireland có Giant’s Causeway , tại Tây Ban Nha có Los Organos , bên đảo Jeju – Đại Hàn có vách đá Jusang Jeolli . Gần thị trấn Yaly huyện Chư Pảh – Pleiku , ven một con suối cũng có bãi đá dung nham núi lửa hình lăng trụ như vậy .
Cách Gành Đá Dĩa chừng 1.000 m về phía bắc , có con đường mòn dẫn tới Hải Đăng Gành Đèn , nhìn xuống thấy toàn là những bãi đá nối tiếp nhau , sóng đánh ì ầm .
Rải rác đây đó trong vùng này đều có khách sạn – nhà nghỉ – Homestay , có nhiều đường làng nối mấy thôn xóm và mấy điểm tham quan với nhau nên giao thông thuận lợi .
Km 46 – Nhà thờ Mằng Lăng .
Gành Đá Dĩa và hải đăng Gành đèn đều nằm ở cuối con đường nên chúng ta đi ngược lại một đoạn , rồi qua Xuân Phú – Diêm Điền , đến nhà thờ Mằng Lăng . Nước mía ở đây đặc biệt thơm ngon !
Linh mục Joseph de La Cassagne , tên tiếng Việt là Cố Xuân , khởi công xây dựng nhà thờ này năm 1892 , trên khuôn viên hơn 5.000 mét vuông , theo kiến trúc Gothic đậm nét châu Âu , và là cha Chánh xứ tiên khởi .
Nơi đây hiện đang giữ cuốn sách tiếng Việt đầu tiên , với chữ Quốc ngữ thưở sơ khai , được in năm 1651 tại Roma – Ý . Báu vật này là sách “Phép giảng tám ngày” , in song ngữ , tiếng La Tinh và tiếng Việt , do linh mục Alexandre de Rhodes – cha Đắc Lộ , 1593 – 1660 , biên soạn .
Sau lưng nhà thờ là Cô nhi viện Mằng Lăng , cũng do linh mục người Pháp , Joseph de La Cassagne thành lập năm 1888 . Hiện nay các nữ tu Dòng Mến Thánh Giá Qui Nhơn đang chăm sóc nuôi dưỡng 25 trẻ mồ côi và 8 người khuyết tật – già yếu – neo đơn tại đây . Các Sơ trồng nhiều loại rau xanh trên mảnh đất 1,2 hecta , lấy huê lợi từ bán rau để trang trải các chi phí .
Các bạn mê văn chương Việt Nam thế nào cũng biết nhà văn Võ Hồng , 1923 – 2013 . Ông viết văn rất sớm nhưng làng văn chương biết nhiều đến ông với tập truyện ngắn Hoài cố nhân , xuất bản năm 1959 . Từ những năm 1950 cho đến cuối đời , ông dạy học , viết văn , sinh hoạt văn hóa nghệ thuật gắn bó với Nha Trang .
Võ Hồng sinh ra và lớn lên tại vùng này . Văn của ông ghi lại tình cảm gắn bó yêu thương con người , yêu quê hương , yêu dân tộc theo cách rất nhẹ nhàng , tự nhiên . Dưới ngòi bút của ông , hiện lên đất nước và con người rất trung thực – đơn sơ – chân chất .
Trước 1975 , nhiều tác phẩm của ông được chọn vào sách giáo khoa . Sau 1975 , sự nghiệp văn chương của ông là đề tài cho nhiều luận án thạc sĩ , tiến sĩ . Đã có nhiều đề nghị , thành phố Nha Trang và thành phố Tuy Hòa nên có con đường mang tên Võ Hồng , và huyện Tuy An nên có một ngôi trường được đặt theo tên ông .
Từ đây “chưa” có Đường Ven Biển nên chúng ta đi 2 km ra lại Quốc lộ 1A , xa một xíu là cầu Ngân Sơn cao vòi vọi trên đường Cao Tốc Bắc – Nam .
Km 56 – cầu Ông Cọp .
Mấy thôn làng ở cửa biển Tiên Châu và bờ biển Phú Hội , gần Gành Đá Dĩa , muốn ra quốc lộ 1A hướng Sông Cầu , Qui Nhơn phải đi vòng rất xa , mà chờ nhà nước quan tâm đến những nguyện vọng của nhân dân thì coi như vô vọng nên dân phải . . . tự xử .
Thế rồi người dân chung nhau góp tiền góp công 1 tỷ đồng , làm một cây cầu bằng gỗ – tre – ván thô sơ nhưng tương đối an toàn 700 m , dài nhứt Việt Nam , đủ cho xe máy chạy 2 chiều , và thu tiền lệ phí vài ngàn tượng trưng để bảo trì cầu .
Mọi người đều hài lòng vì khỏi bị đi vòng xa hơn 15 km , đỡ tốn công sức – thời giờ – xăng nhớt , xã hội bớt ô nhiễm . Cầu được đặt tên theo Miếu Ông Cọp gần đó .
Việc đáng ra nhà nước phải làm mà người dân phải “gồng mình” tự lo liệu , tự làm lấy thì xem ra đáng buồn và đáng lo ngại quá !
Qua khỏi biển Gành Đỏ , đến dốc Găng , vịnh Xuân Đài hiện ra trước mặt . Vịnh rộng đến 130 km , có nhiều bãi tắm rất đẹp ở Vũng La – Vũng Sứ – Vũng Chào , nhiều đảo nhỏ như cù lao Ông Xa , cù lao Nhứt Tự Sơn . Tiềm năng để làm du lịch rất lớn , nhiều hứa hẹn .
Đặc biệt có đảo hình một gạch ngang – giống chữ nhứt trong tiếng Hán nên được gọi là Nhứt Tự Sơn . Đảo nhỏ không người ở , cách đất liền chỉ khoảng chừng 300 m và có con đường ngập nước tới đầu gối hoặc hơn một chút , có thể lội ra đảo . Gặp lúc thủy triều xuống , nước cạn hiện ra con đường cát trắng , có thể đi bộ qua đảo dễ dàng . Có cả cầu tàu và thuyền để đưa khách đến đảo an toàn .
Km 85 – cầu Bình Phú .
Từ năm 2001 , đã có Đường Ven Biển – Quốc lộ 1D , từ Sông Cầu về Qui Nhơn , rất đẹp – rất tốt – rất tiện . Nối 2 tỉnh Bình Định và Phú Yên nên cầu được đặt tên là Bình Phú .
Lúc sáng , điểm tâm ở khách sạn chỉ có ổ bánh mì nhỏ và trứng gà ốp la nên đã đói lắm . Đoàn dừng chân bên cầu và dùng bữa trưa đậm đà , ngon lành , toàn thịt – cá – rau tươi .
Đoạn đường tiếp theo , chúng ta đi trên bán đảo Vĩnh Cửu , dài theo hướng Bắc – Nam , dân cư còn thưa thớt , biển hoang vắng , nhiều bãi tắm đẹp mê hồn . Đoạn đường từ Bãi Bàng , lên đèo đi trên núi cao nhưng ven biển và bắt đầu vào địa phận tỉnh Bình Định với những Khu du lịch nghỉ dưỡng – Resort bên bờ biển .
Km 108 – ICISE
Xuống gần hết con đường đèo QL 1D , có lối lớn quẹo phải , đến Trung tâm Quốc tế Khoa học và Giáo dục liên ngành – ICISE .
Đây là tác phẩm để đời của vợ chồng Giáo sư Dr. Trần Thanh Vân và phu nhân , Giáo sư Dr. Lê Thị Kim Ngọc , từ Paris – Pháp .
Suốt cả cuộc đời , hai Ông Bà dành nhiều thời giờ và công sức , tìm nguồn tài trợ , kêu gọi bạn bè quốc tế giúp đỡ xây dựng 3 làng trẻ em SOS tại Đà Lạt – 1974 , Huế – 2000 , và Đồng Hới – 2006 . Hàng ngàn học sinh sinh viên Việt Nam đã được Ông Bà cấp học bổng , hàng trăm em được qua Pháp học thành tài .
Ông Bà đã chọn bãi biển Qui Hòa và vận động từ nhiều nguồn để xây dựng được một cụm công trình cả ngàn tỷ đồng , để phục vụ cho khoa học và giáo dục . Nước Pháp vô cùng ngưỡng mộ , tổng thống Pháp rất hân hạnh đã ban tặng 2 Ông Bà những huân chương cao quí nhứt của nước Pháp .
Trên khuôn viên 21 hecta , kiến trúc sư Jean Francois Milou đã thiết kế trung tâm ICISE với tỷ lệ xây dựng chỉ 7% trên tổng quỹ đất , rất hài hòa với thiên nhiên chung quanh , có vườn dừa , có vách đá , có bãi cỏ , có giòng sông chảy ra bãi biển chạy dài , rì rào sóng vỗ .
Thật là cay đắng . Trong khi hàng trăm hàng ngàn hàng chục ngàn cán bộ cầm quyền biến chất , say sưa chìm đắm trong tham ô – đục khoét – hút máu dân lành thì 2 Ông Bà cả đời chẳng những hết lòng mà còn kêu gọi bạn bè khắp nơi giúp cho con em chúng ta học tập , hỗ trợ mãnh liệt cho nền khoa học nước nhà .
Ngay bên cạnh , cùng một bãi biển là làng phong Qui Hòa ngày xưa , bây giờ là Bệnh viện Da Liễu Trung ương Qui Hòa .
Năm 1929 linh mục Paul Maheu và bác sĩ Lemoin thành lập trại phong này – La Léproserie de Qui Hòa . Gồm có nhà thờ , khu nhà các nữ tu , khu điều trị và khu nhà ở dành cho bệnh nhân phong định cư lâu dài .
Trước năm 1975 , đã có nhiều dịp đến nơi đây , làng được các nữ tu quản lý rất hay . Mình nhớ nhà cửa trong làng rất xinh đẹp – ngăn nắp – sạch sẽ , có cả nhà máy sản xuất gạch bông , xà bông , chổi quét nhà và những cơ sở khác để tự lực cánh sinh , tự làm tự sống , không phải ngửa tay xin viện trợ .
Thi sĩ Hàn Mặc Tử , 1912 – 1940 , tên thật Nguyễn Trọng Trí vào đây lúc bệnh phong đã quá nặng và qua đời tại đây , lúc mới 28 tuổi . Nhiều vật dụng của ông vẫn còn được gìn giữ tốt , được trưng bày trong phòng lưu niệm nhà thơ .
Ban đầu mộ ông nằm dưới chân núi Xuân Vân – làng phong . Đầu năm 1959 , bạn tri kỷ của ông là nhà thơ Quách Tấn cải táng , lập mộ mới cho thi sĩ ở khu Ghềnh Ráng trên núi Xuân Vân , gọi là đồi Thi Nhân . Trên nền mộ cũ , nhạc sĩ Trần Thiện Thanh và một số người yêu thơ Hàn Mặc Tử đã cùng nhau xây đài tưởng niệm năm 1991 .
Lúc quay ra quốc lộ 1D , mình được đi lại con đường đèo đã đi trước đây năm mươi mấy năm . Thời gian trôi nhanh ghê , ngày nào đi xe Jeep Willy HB – 0371 màu xanh da trời , vào đây lúc còn là cậu thiếu niên lớp 7 lớp 8 , bây giờ là ông già “gần đất xa trời” .
Km 115 – Bãi biển Qui Nhơn .
Khách sạn Cây Xương Rồng gần biển , gần bệnh viện quân y , trường trung học Kỹ thuật , trường cao đẳng Sư Phạm – bây giờ là Đại học Qui Nhơn , và trường La San ngày xưa .
Nguyễn Chi Hoài Nhơn
Photos:
